THẢM HỌA MINAMATA VÀ CÂU CHUYỆN VỀ THỦY NGÂN
1. Bối cảnh lịch sử của thảm họa
Vào những năm 1950, Nhật Bản đang trong giai đoạn phục hồi mạnh mẽ sau thế chiến II. Kinh tế phục hồi nhanh chóng nhờ vào chính sách công nghiệp hóa mạnh mẽ, đặc biệt các ngành công nghiệp hóa chất, thép và chế tạo. Tuy nhiên với sự phát triển nóng của công nghiệp, môi trường và sức khỏe cộng đồng không được chú trọng đúng mức. Chính phủ khuyến khích các công ty lớn phát triển mạnh mà không kiểm soát chặt chẽ các vấn đề ô nhiễm. Nền kinh tế phát triển mạnh nhưng thiếu sự quản lý môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng đã tạo ra một khoảng trống lớn, khiến thảm họa Minamata xảy ra với những tác động nặng nề tới sức khỏe của hàng ngàn người dân và hệ sinh thái trong khu vực.
2. Diễn biến của thảm họa
Tháng 5/1956 có 4 bệnh nhân đầu tiên được đưa vào bệnh viện thành phố Minamata ở bờ tây đảo Kyushu Nhật Bản với các triệu chứng giống nhau: loạn thần, co giật, mất nhận thức, mất thị lực và thính lực, hôn mê và tử vong. Sau đó một loạt các người dân sống quanh vịnh Minamata, tỉnh Kumamoto Nhật Bản cũng xuất hiện căn bệnh tương tự: đi lại run rẩy, đi loạng choạng do mất điều hòa vận động, mù, điếc, nói khó. Những trường hợp nặng dẫn đến điên loạn, liệt, hôn mê và tử vong sau vài tuần kể từ khi khởi phát bệnh. Ban đầu người ta nghi ngờ do một bệnh dịch lạ, các bệnh nhân bị cách ly và bị kỳ thị.
Trước thời gian đó người ta đã thấy cá trong vịnh chết nổi lên nhiều, những con mèo trong vùng có tình trạng đi lại loạng choạng, run rẩy, điên loạn, nhảy xuống biển, người ta gọi là “hội chứng mèo nhảy”, những con quạ chết rơi từ trên trời xuống.
Khi ngày càng có nhiều người bị bệnh, người ta bắt đầu nghi ngờ nguồn bệnh từ nước trong vịnh. Nguồn nước bị ô nhiễm do chất thải của nhà máy hóa chất Chisso thải thẳng ra biển. Tất nhiên nhà máy từ chối và họ chuyển thải ra sông Minamata, đồng thời chính quyền cũng làm lạc hướng dư luận sang nguyên nhân khác vì khi đó nhà máy Chisso đóng góp tới 50% ngân sách của thành phố. Sau một thời gian, những người dân sống trên lưu vực sông Minamata cũng xuất hiện căn bệnh giống như căn bệnh Minamata.
Các đơn kiện của người dân sau đó buộc chính quyền phải vào cuộc. Các nhà khoa học thuộc trường đại học Kumamoto được mời về điều tra. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các gia đình có người bị bệnh hầu hết sống bằng nghề chài lưới, thực phẩm của họ chủ yếu là cá và nhuyễn thể đánh bắt trong vịnh Minamata. Cá trong vịnh chết nhiều, rong ở đáy vịnh cũng chết. Các nhà khoa học còn phát hiện nước trong vịnh có nồng độ cao các kim loại nặng, trong đó có chì, thủy ngân, man gan, asen, đồng, selen. Nguồn thực phẩm được nghi ngờ gây bệnh là cá. Nhóm nghiên cứu đưa ra báo cáo: bệnh Minamata được xác định là do nhiễm độc kim loại nặng. Việc xác định nguyên nhân nào gây bệnh là vô cùng khó khăn. Ban đầu mangan được nghi ngờ do có nồng độ cao trong cá và các cơ quan của người chết vì bệnh Minamata. Giả thiết về selen và một vài chất ô nhiễm khác cũng đã được đưa ra. Đến tháng 3/1958, nhà thần kinh học người Anh là Douglas McAlphine đã đưa ra gợi ý các triệu chứng bệnh Minamata tương tự như triệu chứng của nhiễm độc thủy ngân hữu cơ. Từ đó các nhà khoa học tập trung nghiên cứu vào thủy ngân. Kết quả thật kinh ngạc, tháng 2/1959 người ta phát hiện nồng độ cao thủy ngân ở trong cá, nhuyễn thể và một lượng lớn thủy ngân trong cặn bùn vịnh Minamata. Nồng độ thủy ngân cao nhất tập trung quanh vị trí ống xả thải của nhà máy Chisso ra vịnh. Mức độ ô nhiễm nặng đến mức ở gần cửa ống xả nồng độ thủy ngân lên tới 2kg/1 tấn trầm tích, nồng độ đủ để bắt đầu khai thác thủy ngân. Thực tế sau này Chisso đã tổ chức một bộ phận phụ để khai thác và bán thủy ngân lấy được từ bùn ở khu vực xả thải. Mẫu tóc các bệnh nhân bị bệnh Minamata cũng cho thấy chứa một nồng độ cao thủy ngân tới 705ppm, trong khi người dân bình thường sống ngoài vùng Minamata chỉ 4ppm.
Tháng 12/1959 Bộ Y tế và Phúc lợi Nhật Bản đã công bố “Bệnh Minamata là bệnh ngộ độc ảnh hưởng chính tới hệ thần kinh trung ương và bị gây ra bởi tiêu thụ một lượng lớn cá và nhuyễn thể sống trong vịnh Minamata và khu vực lân cận. Tác nhân gây hại chính được xác định là một hợp chất thủy ngân hữu cơ”. Về sau người ta xác định hợp chất thủy ngân đó là Methyl Mercury (CH3Hg). Đến tháng 3/2001 chính phủ Nhật Bản đã xác nhận có 2265 nạn nhân, trong đó 1784 người đã chết. Điều nguy hiểm là, nhiễm độc thủy ngân gây độc cho thai nhi. Những bà mẹ mang thai bị nhiễm độc thủy ngân đẻ ra con bị bại não, dị tật, điếc, câm … mặc dù những người mẹ này không có biểu hiện bệnh. Nhau thai đã bắt giữ thủy ngân từ máu mẹ và thủy ngân theo máu vào thai nhi. Tòa án đã sử vụ kiện của người dân và buộc nhà máy Chisso phải bồi thường cho các nạn nhân bị bệnh Minamata và làm sạch môi trường. Thực tế tổng số tiền bồi thường cho các nạn nhân bị bệnh Minamata và tiền để làm sạch môi trường vịnh Minamata lên đến 308,5 tỉ yên (tương đương gần 2829 tỉ Dola Mỹ), trong đó 260 tỉ yên Chisso phải bồi thường cho các nạn nhân, còn 48,5 tỉ yên là số chi phí tỉnh Kumamoto phải bỏ ra để nạo vét và làm sạch vịnh Minamata.
Ngoài thảm họa Minamata, giai đoạn này ở Nhật còn một thảm họa thứ hai cũng do ô nhiễm môi trường của thủy ngân, đó là thảm hoạ xảy ra ở Niigata vào năm 1965 tại lưu vực sông Agano tỉnh Niigata đảo Honshu. Bệnh tương tự như bệnh Minamata (1956) nên người ta gọi là thảm họa Niigata Minamata để phân biệt với thảm họa động đất ở tỉnh này. Thảm họa Niigata Minamata do nhà máy hóa chất Showa Denko xả thải ra sông Agano. Tổng cộng có 690 người ở lưu vực sông Agano được xác nhận là mắc bệnh Niigata Minamata.
Ngoài hai thảm họa nhiễm độc thủy ngân hữu cơ (CH3Hg), ở Nhật giai đoạn này còn ghi nhận thêm hai thảm họa môi trường nữa. Bệnh thứ nhất là bệnh xuyễn Yokkaichi năm 1960 tại thành phố Yokkaichi do khí thải lưu huỳnh diocide (SO2) từ khu phức hợp công nghệ lọc dầu gây ô nhiễm không khí. Bệnh thứ hai là bệnh itai-itai (đau quá - đau quá) do ngộ độc cadmium (Cd) mạn tính xảy ra tại Toyama. Bệnh nhân đau dữ dội ở xương sống và các khớp, gãy xương và suy thận. Bệnh do Cd tích lũy tại thận gây tổn thương ống thận, dẫn đến mất các khoáng chất như calci, phospho qua nước tiểu gây loãng xương, nhuyễn xương và gây đau dữ dội. Do hoạt động khai thác khoáng sản của công ty Mitsui Mining và Smelting đã xả thải Cd ra sông Jinzu. Kim loại này theo nước tưới tiêu ngấm vào đất nông nghiệp, tích tụ trong lúa gạo mà người dân ăn hàng ngày. Từ 1967 đến 2011 đã có 196 bệnh nhân được công nhận mắc bệnh. Vụ kiện ô nhiễm môi trường này cũng đã buộc công ty Mitsui Mining phải bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân.
Từ các thảm họa môi trường trên đã khiến người dân Nhật Bản cho đến bây giờ vẫn không dám ăn cá nước ngọt đánh bắt từ sông hồ.
3. Câu chuyện về thủy ngân
Thủy ngân là kim loại nặng có ánh bạc, ký hiệu Hg, tên khoa học mercury, đứng ở ô 80 trong bảng tuần hoàn Mendeleev, khối lượng nguyên từ 200,59. Thủy ngân có điểm nóng chảy -38,830C và điểm sôi 356,730C. Ở nhiệt độ thường thủy ngân ở trạng thái lỏng.
Thủy ngân tồn tại trong tự nhiên ở các mỏ trên khắp thế giới, quặng thủy ngân ở Trung Quốc có tên là chu sa hay thần sa, ở phương tây gọi là Cinnabar, nó là sulfua thủy ngân (HgS) có màu đỏ son rất đẹp. Để điều chế thủy ngân người ta nghiền quặng chu sa rồi nung nóng để lưu huỳnh bay hơi còn lại thủy ngân. Thủy ngân nguyên chất là một chất lỏng màu bạc óng ánh, không bị oxy hóa và có thể hòa tan rất nhiều kim loại, ngoại trừ sắt.
Vì đặc tính không bị oxy hóa có thể trường tồn, chất lỏng óng ánh bạc, quặng có màu đỏ son lại hoà tan được nhiều kim loại nên người xưa quan niệm nó phải là thứ tinh túy trường tồn, nên đã sử dụng chu sa để chế thuốc trường sinh cho các bậc vua chúa. Thật không may sự thiếu hiểu biết đã dẫn tới hậu quả tai hại là thay vì trường sinh các vị vua chúa lại chết sớm vì ngộ độc thủy ngân mạn tính.
Từ xa xưa người ta đã biết tận dụng đặc tính hòa tan được nhiều kim loại của thủy ngân để khai thác vàng. Vàng trong mỏ là những hạt li ti lẫn trong đất đá, người ta nghiền quặng vàng và trộn nó với thủy ngân, thủy ngân hòa tan và bao bọc các hạt vàng gọi là hỗn hống vàng thủy ngân, sau đó người ta đãi quặng để đất đá trôi đi, hỗn hống vàng thủy ngân nặng còn lại, rồi người ta nung hỗn hống này lên trên 3600C để thủy ngân bay hơi còn lại vàng nguyên chất. Thời kỳ đầu vì khai thác thủ công như vậy nên rất nhiều công nhân khai thác vàng bị nhiễm độc thủy ngân do tiếp xúc với da trong quá trình trộn quặng và tiếp xúc với hơi thủy ngân trong quá trình nung hỗn hống vàng thủy ngân. Chất thải sau đãi vàng còn lẫn thủy ngân cũng đã gây ô nhiễm môi trường quanh các mỏ vàng.
Các thảm họa Minamata (1956), Niigata Minamata (1965) ở Nhật Bản và Konaikadal (2001) ở Ấn Độ là do nhiễm độc thủy ngân hữu cơ (CH3Hg) do các công ty hóa chất thải ra môi trường. Thủy ngân hữu cơ có đặc tính bị tích lũy trong cơ thể sinh vật mà không được đào thải, do thủy ngân có ái lực rất mạnh với lưu huỳnh (S). Nguyên tử lưu huỳnh lại có trong thành phần các protein trong cơ thể, ở hệ thần kinh, ở các phân tử enzym… Thủy ngân lại dễ dàng vượt qua hàng rào máu não để xâm nhập vào hệ thần kinh. Thủy ngân khi xâm nhập vào cơ thể theo máu tới mọi cơ quan và nó gắn chặt với nguyên tố lưu huỳnh trong phân tử protein, đặc biệt là hệ thần kinh trung ương gây phá hủy và làm mất chức năng của các protein này. Thủy ngân gây ngộ độc cấp nếu nhiễm độc số lượng nhiều, nhiễm độc mạn nếu tích lũy dần dần. Khi methyl mercury được xả thải vào môi trường sông, biển, chúng bám vào các sinh vật phù du. nhuyễn thể ăn các sinh vật phù du bị nhiễm thủy ngân, các con cá nhỏ ăn các nhuyễn thể sẽ bị tích lũy thủy ngân, đến lượt các con cá lớn ăn cá nhỏ thì chúng bị tích lũy một lượng lớn thủy ngân. Con người ăn cá và các nhuyễn thể bị nhiễm thủy ngân sẽ bị nhiễm độc thủy ngân.
Câu chuyện của thủy ngân cho chúng ta bài học đắt giá về bảo vệ môi trường trong thời kỳ phát triển nóng của nền kinh tế.
Hà Hoàng Kiệm sưu tầm và tổng hợp
Tài liệu tham khảo
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%87nh_Minamata
2. "Minamata Disease: The History and Measures", The Bộ Môi trường (Nhật Bản), (2002), retrieved ngày 17 tháng 1 năm 2007
4. https://tuoitre.vn/cac-tham-hoa-thuy-ngan-tren-the-gioi-bai-hoc-tu-qua-khu-20190910180431096.htm
5. https://moitruong.net.vn/tham-hoa-thuy-ngan-minamata-noi-dau-don-keo-dai-hon-nua-the-ky-cua-nguoi-dan-nhat-ban-25046.html.
