Tìm hiểu về sự phát triển kỳ diệu của Singapor và vai trò của ông Lý Quang Diệu

Cập nhật: 17/02/2016 Lượt xem: 7370

Trong thời đại này, có hai đất nước nhỏ bé, nhưng những người dân nước này đã làm nên những kỳ tích khiến cả thế giới đi từ ngạc nhiên đến thán phục, đó là Singapor ở Đông Nam Á và Israen ở Trung Đông. Singapor gắn liền với tên tuổi Lý Quang Diệu còn Israen với dân tộc do thái gắn liền với Do thái giáo.

Địa danh

Diện tích

(km2)

Dân số

(người)

Singapor (1960)

581,5 

5.312.000 (2012)

Hà Nội cũ (1961)

586,13

91.000

Israen (2004)

20.770 

6.900.000

Đài Loan (2006)

36.192,8

23.036.087

Dưới đây là các bài sưu tập về đất nước Singapor và nhà lập quốc Lý Quang Diệu, các bài viết phần nào lý giải những bí mật khiến họ làm nên những điều kỳ diệu.

Singapore

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Vị trí của Singapore 

Singapore (phiên âm Tiếng Việt: Xin-ga-po, Hán-Việt: Tân Gia Ba) và có tên chính thức là nước Cộng hòa Singapore, là một thành bang và đảo quốc tại Đông Nam Á. Đảo quốc nằm ngoài khơi mũi phía nam của bán đảo Mã Lai và cách xích đạo 137 km về phía bắc. Lãnh thổ Singapore gồm có một đảo chính hình thoi, và khoảng 60 đảo nhỏ hơn. Singapore tách biệt với Malaysia bán đảo qua eo biển Johor ở phía bắc, và tách biệt với quần đảo Riau của Indonesia qua eo biển Singapore ở phía nam. Singapore là quốc gia đô thị hóa cao độ, chỉ còn lại ít thảm thực vật nguyên sinh. Lãnh thổ của Singapore liên tục mở rộng thông qua hoạt động cải tạo đất.

Các hòn đảo của Singapore có người định cư vào thế kỷ thứ 2 Công nguyên và sau đó thuộc một số quốc gia bản địa. Năm 1819, chính trị gia Anh Quốc Stamford Raffles thành lập Singapore hiện đại với vai trò là một trạm mậu dịch của Công ty Đông Ấn Anh, hành động này được Vương quốc Johor cho phép. Anh Quốc giành được chủ quyền đối với đảo vào năm 1824, và Singapore trở thành một trong Các khu định cư Eo biển của Anh Quốc vào năm 1826. Nhật Bản chiếm đóng Singapore trong Chiến tranh thế giới thứ hai, và sau chiến tranh Singapore tuyên bố độc lập từ Anh Quốc vào năm 1963, và hợp nhất với các cựu lãnh thổ khác của Anh Quốc để hình thành Malaysia, tuy nhiên Singapore bị trục xuất khỏi Malaysia hai năm sau. Kể từ đó, Singapore phát triển nhanh chóng, được công nhận là một trong Bốn con hổ châu Á.

Singapore là một trong các trung tâm thương mại lớn của thế giới, với vị thế trung tâm tài chính lớn thứ tư và một trong năm cảng bận rộn nhất. Nền kinh tế mang tính toàn cầu và đa dạng của Singapore phụ thuộc nhiều vào mậu dịch, đặc biệt là chế tạo, chiếm 26% GDP vào năm 2005. Theo sức mua tương đương, Singapore có thu nhập bình quân đầu người cao thứ ba trên thế giới. Quốc gia này xếp hạng cao trong các bảng xếp hạng quốc tế liên quan đến giáo dục, chăm sóc sức khỏe, sự minh bạch của chính phủ, và tính cạnh tranh kinh tế.

Singapore là một nước cộng hòa nghị viện đa đảng nhất thể, có chính phủ nghị viện nhất viện theo hệ thống Westminster. Đảng Hành động Nhân dân giành chiến thắng trong tất cả các cuộc bầu cử kể từ khi Singapore tự trị vào năm 1959. Có hơn năm triệu người sống tại Singapore, trong đó xấp xỉ hai triệu người sinh ra tại nước ngoài. Singapore có thành phần dân tộc đa dạng, song các dân tộc châu Á chiếm ưu thế: 75% dân số là người Hoa, các cộng đồng thiểu số đáng kể là người Mã Lai, người Ấn Độ, và người Âu-Á. Quốc gia này có bốn ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh, tiếng Mã Lai, tiếng Hoatiếng Tamil, và chính phủ thúc đẩy chủ nghĩa văn hóa đa nguyên thông qua một loạt các chính sách chính thức.

Singapore là một trong năm thành viên sáng lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và là nơi đặt Ban thư ký APEC, là một thành viên của Hội nghị cấp cao Đông Á, Phong trào không liên kết, và Thịnh vượng chung các quốc gia. Sự phát triển nhanh chóng của Singapore tạo cho quốc gia này có ảnh hưởng đáng kể trong các vấn đề toàn cầu, khiến một số nhà phân tích nhận định Singapore là một cường quốc bậc trung.

Tên gọi tiếng Anh "Singapore" bắt nguồn từ tiếng Mã Lai Singapura (tiếng Phạn: सिंहपुर, nghĩa là thành phố Sư tử). Tuy nhiên, người ta tin rằng sư tử chưa từng sống trên đảo, và loài thú mà Sang Nila Utama (người thành lập và định danh cho Singapore cổ đại) nhìn thấy có lẽ là một con hổ.

Lịch sử

Khu định cư đầu tiên được biết đến tại Singapore là một tiền đồn của Đế quốc Srivijaya có tên là Temasek ('hải trấn'). Hòn đảo vẫn là một phần của Đế quốc Srivijaya khi Hoàng đế Rajendra Chola I của Đế quốc Chola tại Nam Ấn xâm chiếm nó vào thế kỷ 11. Năm 1613, những hải tặc người Bồ Đào Nha đốt khu định cư và hòn đảo chìm trong tăm tối vào hai thế kỷ sau đó.

Năm 1819, chính khách người Anh Quốc Thomas Stamford Raffles đến và thay mặt Công ty Đông Ấn Anh để ký kết một hiệp định với Quốc vương Hussein Shah của Vương quốc Johor nhằm phát triển phần phía nam của Singapore thành một trạm mậu dịch của Đế quốc Anh. Năm 1824, Anh Quốc có quyền sở hữu đối với toàn bộ đảo theo một hiệp định khác với Quốc vương và Temenggong (thống lĩnh). Năm 1826, Singapore trở thành một phần của Các khu định cư Eo biển, thuộc phạm vi quyền hạn của Ấn Độ thuộc Anh, rồi trở thành thủ đô của lãnh thổ vào năm 1836. Trước khi Raffles đến, có xấp xỉ 1.000 người sống trên đảo, hầu hết là người Mã Lai bản địa cùng với một số người Hoa. Năm 1860, dân số vượt quá 80.000 và hơn một nửa là người Hoa. Nhiều người nhập cư đến để làm việc trong các đồn điền cao su, và sau thập niên 1870 thì đảo trở thành một trung tâm xuất khẩu cao su toàn cầu.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Quân đội Đế quốc Nhật Bản xâm chiếm Malaya thuộc Anh, đỉnh điểm là trận Singapore. Người Anh chiến bại, và đầu hàng vào ngày 15 tháng 2 năm 1942. Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill gọi đây là "thảm họa tệ nhất và sự đầu hàng lớn nhất trong lịch sử Anh Quốc". Số người Hoa bị thảm sát sau khi Singapore thất thủ ước tính từ 5.000 đến 25.000. Người Anh tái chiếm đảo vào tháng 9 năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng.

Trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên năm 1955, lãnh đạo ủng hộ độc lập của Mặt trận Lao động là David Marshall giành chiến thắng. Ông dẫn đầu một phái đoàn đến Luân Đôn để yêu cầu tự trị hoàn toàn, song người Anh bác bỏ. Sau đó, David Marshall từ chức và Lâm Hữu Phúc trở thành người thay thế, ông thi hành các chính sách nhằm thuyết phục người Anh trao cho Singapore quyền tự trị nội bộ hoàn toàn đối với toàn bộ các vấn đề ngoại trừ quốc phòng và đối ngoại.

Trong cuộc bầu cử tháng 5 năm 1959, Đảng Hành động Nhân dân giành chiến thắng vang dội. Singapore trở thành một nhà nước tự trị nội bộ bên trong Thịnh vượng chung và Lý Quang Diệu trở thành Thủ tướng đầu tiên của quốc gia. Tổng đốc William Allmond Codrington Goode giữ vai trò là Yang di-Pertuan Negara ("nguyên thủ quốc gia") đầu tiên, người kế nhiệm là Yusof bin Ishak trở thành Tổng thống Singapore đầu tiên vào năm 1965. Trong thập niên 1950, những người cộng sản gốc Hoa vốn có quan hệ chặt chẽ với các thương hội và các trường tiếng Hoa tiến hành một cuộc nổi dậy vũ trang chống lại chính quyền tại Malaya, dẫn đến Tình trạng khẩn cấp Malaya, và sau đó là cuộc Nổi dậy cộng sản Malaysia (1968-1989). Bạo động phục vụ toàn quốc 1954, bạo động trung học Hoa văn và bạo động xe buýt Phúc Lợi tại Singapore đều có liên hệ với các sự kiện này. Trong giai đoạn này, chính phủ Singapore tiêu diệt những tổ chức chính trị, cá nhân bị liệt vào thành phần có cảm tình với phong trào Cộng sản tại Singapore.

Cuộc trưng cầu dân ý về việc sát nhập Singapore vào Liên bang Mã Lai được tiến hành vào năm 1962, đưa Singapore trở thành một thành viên của Liên bang Malaysia cùng với Malaya, SabahSarawak với vị thế một bang có quyền tự trị vào tháng 9 năm 1963. Singapore bị trục xuất khỏi liên bang vào ngày 7 tháng 8 năm 1965 sau những bất đồng quan điểm chính trị chính phủ của bang và hội đồng liên bang tại Kuala Lumpur. Singapore được độc lập 2 ngày sau đó, vào ngày 9 tháng 8 năm 1965, sau này đã trở thành ngày Quốc khánh của Singapore. Malaysia là nước đầu tiên công nhận nền độc lập của Singapore.

Độc lập đồng nghĩa với tự túc, Singapore đã phải đối mặt với nhiều khó khăn trong giai đoạn này, bao gồm nạn thất nghiệp, thiếu nhà ở, đất đai và tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ. Với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và đồng minh, trong nhiệm kỳ của mình từ năm 1959 đến 1990, Thủ tướng Lý Quang Diệu từng bước kiềm chế thất nghiệp, lạm phát, tăng mức sống và thực hiện một chương trình nhà ở công cộng với quy mô lớn. Các cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước được phát triển, mối đe dọa của căng thẳng chủng tộc được loại bỏ và một hệ thống phòng vệ quốc gia được thiết lập. Singapore từ một nước đang phát triển trở thành một nước phát triển vào cuối thế kỷ 20.

Năm 1990, Ngô Tác Đống kế nhiệm chức thủ tướng, đối mặt với nhiều khó khăn bao gồm ảnh hưởng kinh tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, sự lan tràn của SARS năm 2003 cũng như những đe dọa khủng bố từ Jemaah Islamiah, hậu 11 tháng 9 và các vụ đánh bom ở Bali. Năm 2004, con trai cả của Lý Quang Diệu là Lý Hiển Long trở thành thủ tướng thứ ba.

Địa lý

 

Singapore được chia thành 55 khu vực quy hoạch và Vườn Thực vật Singapore, khu vườn thực vật 52 ha của Singapore, nơi có Vườn Lan Quốc gia với hơn 3,000 loài hoa phong lan.

Singapore là một hòn đảo có hình dạng một viên kim cương được nhiều đảo nhỏ khác bao quanh. Có hai con đường nối giữa Singapore và bang Juhor của Malaysia — một con đường nhân tạo có tên Đường đắp cao Johor-Singapor ở phía bắc, băng qua eo biển Tebrau và Liên kết thứ hai Tuas, một cầu phía tây nối với Juhor. Đảo Jurong, Pulau Tekong, Pulau UbinSentosa là những đảo lớn nhất của Singapore, ngoài ra còn có nhiều đảo nhỏ khác. Vị trí cao nhất của Singapore là đồi Bukit Timah với độ cao 166 m.

Vùng thành thị trước đây chỉ tập trung bao quanh sông Singapore, hiện nay là trung tâm buôn bán của Singapore, trong khi đó những vùng còn lại rừng nhiệt đới ẩm hoặc dùng cho nông nghiệp. Từ thập niên 1960, chính phủ đã xây dựng nhiều đô thị mới ở những vùng xa, tạo nên một Singapore với nhà cửa san sát ở khắp mọi miền, mặc dù Khu vực Trung tâm vẫn là nơi hưng thịnh nhất. Ủy ban Quy hoạch Đô thị là một ban của chính phủ chuyên về các hoạt động quy hoạch đô thị với nhiệm vụ là sử dụng và phân phối đất hiệu quả cũng như điều phối giao thông. Ban đã đưa ra quy hoạch chi tiết cho việc sử dụng đất ở 55 khu vực.

Singapore đã mở mang lãnh thổ bằng đất lấy từ những ngọn đồi, đáy biển và những nước lân cận. Nhờ đó, diện tích đất của Singapore đã tăng từ 581,5 km² ở thập niên 1960 lên 697,25 km² ngày nay, và có thể sẽ tăng thêm 100 km² nữa đến năm 2030.

Singapore có khí hậu xích đạo ẩm với các mùa không phân biệt rõ rệt. Đặc điểm của loại khí hậu này là nhiệt độ và áp suất ổn định, độ ẩm cao và mưa nhiều. Nhiệt độ thay đổi trong khoảng 22°C đến 31 °C (72°–88°F). Trung bình, độ ẩm tương đối khoảng 90% vào buổi sáng và 60% vào buổi chiều. Trong những trận mưa lớn kéo dài, độ ẩm tương đối thường đạt 100%. Nhiệt độ cao nhất và thấp nhất đã từng xuất hiện là 18,4 °C (65,1 °F) và 37,8 °C (100,0 °F).

Sự đô thị hóa đã làm biến mất nhiều cánh rừng mưa nhiệt đới một thời, hiện nay chỉ còn lại một trong số chúng là Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bukit Timah. Tuy nhiên, nhiều công viên đã được gìn giữ với sự can thiệp của con người, ví dụ như Vườn Thực vật Quốc gia. Không có nước ngọt từ sông và hồ, nguồn cung cấp nước chủ yếu của Singapore là từ những trận mưa rào được giữ lại trong những hồ chứa hoặc lưu vực sông. Mưa rào cung cấp khoảng 50% lượng nước, phần còn lại được nhập khẩu từ Malaysia hoặc lấy từ nước tái chế - một loại nước có được sau quá trình khử muối. Nhiều nhà máy sản xuất nước tái chế đang được đề xuất và xây dựng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu.

Chính phủ và chính trị

Tòa nhà Quốc hội của Singapore

Singapore là một nước cộng hòa nghị viện, có chính phủ nghị viện nhất viện theo hệ thống Westminster đại diện cho các khu vực bầu cử. Hiến pháp của quốc gia thiết lập hệ thống chính trị dân chủ đại diện. Freedom House xếp hạng Singapore là "tự do một phần" trong báo cáo Freedom in the World của họ, và The Economist xếp hạng Singapore là một "chế độ hỗn hợp", hạng thứ ba trong số bốn hạng, trong "Chỉ số dân chủ" của họ. Tổ chức Minh bạch Quốc tế liên tục xếp Singapore vào hạng các quốc gia ít tham nhũng nhất trên thế giới.

Quyền hành pháp thuộc về Nội các Singapore, do Thủ tướng lãnh đạo, và ở một mức độ thấp hơn rất nhiều là Tổng thống. Tổng thống được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu, và có quyền phủ quyết đối với một tập hợp cụ thể các quyết định hành pháp, như sử dụng dự trữ quốc gia và bổ nhiệm các thẩm phán, song vai trò phần lớn mang tính lễ nghi.

Quốc hội đóng vai trò là nhánh lập pháp của chính phủ. Các thành viên của Quốc hội gồm có các thành viên đắc cử, phi tuyển khu và được chỉ định. Các thành viên đắc cử được bầu vào Quốc hội trên cơ sở "đa số chế" và đại diện cho các khu vực bầu cử có một hoặc nhóm đại diện. Đảng Hành động Nhân dân giành quyền kiểm soát quốc hội với đa số lớn trong tất cả các cuộc bầu cử kể từ khi Singapore tự trị vào năm 1959.

Hệ thống tư pháp của Singapore dựa trên thông luật Anh, song có các khác biệt địa phương đáng kể. Việc bồi thẩm đoàn xử án bị bãi bỏ vào năm 1970, các phán quyết tư pháp sẽ hoàn toàn nằm trong tay các thẩm phán được chỉ định. Singapore có các hình phạt bao gồm cả trừng phạt thân thể tư pháp dưới dạng đánh đòn hoặc phạt roi nơi công cộng, có thể áp dụng đối với các tội hình như hiếp dâm, gây rối loạn, phá hoại, và các vi phạm di trú nhất định. Tổ chức Ân xá Quốc tế cho rằng một số điều khoản pháp lý của Singapore xung đột với quyền được cho là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội, và rằng Singapore "có thể có tỷ lệ hành quyết cao nhất trên thế giới so với dân số của quốc gia". Chính phủ Singapore bất đồng ý kiến với các tuyên bố của Tổ chức Ân xá Quốc tế. Trong một nghiên cứu vào năm 2008, Singapore và Hong Kong xếp hàng đầu về chất lượng hệ thống tư pháp tại châu Á.

Quan hệ đối ngoại

Quốc vụ tư chính Lý Quang Diệu cùng Đại sứ Singapore tại Hoa Kỳ Trần Khánh Châu gặp Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ William Cohen vào năm 2000.

Chính sách đối ngoại của Singapore có mục đích duy trì an ninh tại Đông Nam Á và các lãnh thổ phụ cận. Một nguyên tắc cơ bản là tính ổn định chính trị và kinh tế trong khu vực. Singapore có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia có chủ quyền. Là một trong năm thành viên sáng lập của ASEAN, Singapore là một quốc gia ủng hộ mạnh mẽ đối với Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) và Khu vực đầu tư ASEAN. Cựu Thủ tướng Ngô Tác Đống đề xuất hình thành một Cộng đồng Kinh tế ASEAN, một bước vượt qua AFTA, đưa Đông Nam Á tiến gần hơn đến một thị trường chung. Singapore duy trì tư cách thành viên trong các tổ chức khu vực khác như Hội nghị Á-Âu, Diễn đàn Hợp tác Đông Á-Mỹ Latinh, Hệ thống các thành phố lớn châu Á 21, và Hội nghị cấp cao Đông Á. Đảo quốc cũng là một thành viên của Phong trào không liên kếtThịnh vượng chung Các quốc gia.

Về tổng thể, Singapore có quan hệ song phương vững chắc với các thành viên khác trong ASEAN; tuy nhiên, có những bất đồng phát sinh, và quan hệ với Malaysia và Indonesia đôi khi trở nên căng thẳng. Malaysia và Singapore phát sinh mâu thuẫn về vấn đề cung cấp nước sạch đến Singapore, và vấn đề Quân đội Singapore tiếp cận không phận Malaysia. Có những vấn đề biên giới tồn tại với Malaysia và Indonesia, và hai quốc gia này đều cấm bán cát biển đến Singapore do những tranh nghị về hành động cải tạo đất của Singapore. Một số tranh chấp trước đó được giải quyết thông qua Tòa án Công lý Quốc tế. Vấn nạn hải tặc trên eo biển Malacca tạo ra mối quan tâm chung của cả ba quốc gia. Singapore có các quan hệ kinh tế mật thiết với Brunei, và hai quốc gia chia sẻ một giá trị tiền tệ cố định.

Singapore có tiếp xúc ngoại giao đầu tiên với Trung Quốc trong thập niên 1970, và quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa hai quốc gia được thiết lập trong thập niên 1990. Kể từ đó, Singapore và Trung Quốc là những bên chủ yếu trong việc tăng cường quan hệ ASEAN–Trung Quốc. Singapore và Hoa Kỳ có quan hệ mật thiết lâu dài, đặc biệt là trong các lĩnh vực quốc phòng, kinh tế, y tế, và giáo dục. Hoa Kỳ là đối tác mậu dịch lớn thứ ba của Singapore trong năm 2010, sau Trung Quốc (thứ 2) và Malaysia (thứ 1). Hai quốc gia có một hiệp định mậu dịch tự do, và Singapore nhận định quan hệ với Hoa Kỳ là một đối trọng quan trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc.

Quân sự

Quân đội Singapore tuy nhỏ nhưng được cho là có kỹ thuật tiến bộ nhất tại Đông Nam Á, gồm có Lục quân Singapore, Hải quân Cộng hòa Singapore, và Không quân Cộng hòa Singapore. Quân đội được nhìn nhận là lực lượng bảo đảm cho độc lập quốc gia. Triết lý quốc phòng của đảo quốc mang tính ngoại giao và răn đe. Nguyên lý này biến thành văn hóa, yêu cầu mọi công dân tham dự phòng thủ quốc gia. Chính phủ dành 4,9% GDP toàn quốc cho quốc phòng, và khoảng 1/4 chi tiêu của chính phủ là dành cho quốc phòng.

Sau khi độc lập, Singapore có hai trung đoàn bộ binh do các sĩ quan người Anh chỉ huy. Lực lượng này được nhận định là quá nhỏ để đáp ứng an ninh hiệu quả cho quốc mới, do vậy việc phát triển quân đội trở thành một điều ưu tiên. Anh đưa quân đội ra khỏi Singapore vào tháng 10 năm 1971, chỉ còn hiện diện tượng trưng bằng một lực lượng nhỏ người Anh, Úc và New Zealand. Quân nhân Anh cuối cùng rời khỏi Singapore vào tháng 3 năm 1976. Các binh sĩ New Zealand là những người cuối cùng rời đi, vào năm 1989.

Singapore nhận được trợ giúp ban đầu trên quy mô lớn từ Israel, một quốc gia không được Malaysia, Indonesia hay Brunei công nhận. Mối lo chính sau khi độc lập là một cuộc xâm chiếm của Malaysia. Các sĩ quan chỉ huy của Lực lượng Phòng vệ Israel được giao nhiệm vụ thiết lập Lực lượng vũ trang Singapore từ con số không, và những giáo viên hướng dẫn người Israel được đưa đến nhằm huấn luyện cho các binh sĩ Singapore. Các khóa huấn luyện quân sự được tiến hành theo khuôn mẫu của Lực lượng Phòng vệ Israel, và Singapore tiếp nhận một chế độ nghĩa vụ quân sự và lực lượng dự bị dựa theo mô hình Israel. Singapore vẫn duy trì các quan hệ an ninh mật thiết với Israel và là một trong những khách hàng lớn nhất của vũ khí Israel.

Lực lượng vũ trang Singapore đang được phát triển nhằm đáp ứng một loạt các vấn đề, trong cả chiến tranh quy ước và phi quy ước. Cục khoa-kỹ Quốc phòng chịu trách nhiệm thu thập tiềm lực cho quân đội. Hạn chế trên phương diện địa lý của đảo quốc có nghĩa là Lực lượng vũ trang Singapore cần phải có kế hoạch đẩy lui hoàn toàn một cuộc tấn công, do họ không thể rút lui rồi tái tập hợp. Quy mô dân số nhỏ cũng tác động đến phương pháp mà Lực lượng vũ trang Singapore trù tính, với một lực lượng tích cực nhỏ song có một lượng dự trữ lớn. Do khan hiếm đất trống tại đảo chính, các hoạt động liên quan đến huấn luyện như bắn đạn thật và diễn tập đổ bộ thường được tiến hành trên các đảo nhỏ hơn, thường cấm chỉ thường dân tiếp cận, nó cũng ngăn ngừa rủi ro tại đảo chính và khu vực đô thị. Tuy nhiên, các cuộc tập trận quy mô lớn được nhận định là quá nguy hiểm khi tiến hành trong khu vực, và chúng được thực hiện tại Đài Loan từ năm 1975. Hoạt động huấn luyện cũng được tổ chức tại nhiều quốc gia khác. Về tổng thể, các cuộc luyện tập quân sự được tổ chức với lực lượng ngoại quốc một hoặc hai lần mỗi tuần.

Do không phận và lãnh thổ hạn chế, Không quân Cộng hòa Singapore duy trì một số căn cứ hải ngoại tại Úc, Hoa Kỳ, và Pháp. Phi đội 130 của Không quân Cộng hòa Singapore đặt tại RAAF Base Pearce, Tây Úc, còn Phi đội 126 đặt tại Trung tâm Hàng không Lục quân Oakey, Queensland. Phi đội 150 đặt tại căn cứ không quân Cazaux tại miền nam Pháp. Không quân Cộng hòa Singapore cũng có một vài phân đội hải ngoại tại Hoa Kỳ, như tại San Diego, Marana, Grand Prairie và căn cứ không quân Luke.

Lực lượng vũ trang Singapore đã phái quân đi hỗ trợ các hoạt động bên ngoài đảo quốc, tại các khu vực như IraqAfghanistan, trong cả vai trò quân sự và dân sự. Trong khu vực, Lực lượng vũ trang Singapore giúp ổn định Đông Timor và cung cấp viện trợ đến Aceh tại Indonesia sau Động đất và sóng thần Ấn Độ Dương 2004. Lực lượng vũ trang Singapore cũng tham gia giúp đỡ trong các nỗ lực cứu trợ sau Bão Katrina. Singapore là một bên trong Dàn xếp phòng vệ 5 quốc gia (FPDA), một liên minh quân sự với Anh, Malaysia, New Zealand, và Úc.

Kinh tế

Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài. Singapore chỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét; không có nước ngọt; đất canh tác hẹp, chủ yếu để trồng cao su, dừa, raucây ăn quả, do vậy nông nghiệp không phát triển, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trong nước. Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu châu Á và thế giới. 5 mũi nhọn kinh tế của Singapore là: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến và lắp ráp máy móc tinh vi, trung tâm tài chính và mậu dịch. Singapore có 12 khu vực công nghiệp lớn, trong đó lớn nhất là Khu công nghiệp Jurong. Singapore là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở châu Á. Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.

Cựu nhà báo Chin Kah Chongrong cho rằng: "Trong thập niên 1960-1970, kinh tế Singapore được hưởng lợi từ việc cung cấp nhu yếu phẩm, nhiên liệu, vũ khí và phương tiện chiến tranh cho quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam. Riêng khoản xăng dầu và nhiên liệu, mỗi tháng Singapore cung cấp cho Mỹ lượng hàng trị giá 600 triệu đôla, thu nhập từ việc làm hậu cần cho quân đội Mỹ chính là nguồn lực ban đầu giúp Singapore xây dựng kinh tế đất nước". Tuy nhiên, ông Lý Quang Diệu luôn phủ nhận điều này. Trong hồi ký ông cho biết vật liệu chiến tranh chủ yếu Singapore cung cấp cho quân đội Mỹ chỉ là xăng dầu và nhớt bôi trơn từ các công ty dầu khí của Mỹ và Anh Quốc, và lợi nhuận vào tay Singapore là không đáng kể.

Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân). Kinh tế Singapore từ cuối những năm 1980 đạt tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất thế giới: 1994 đạt 10%, 1995 là 8,9%. Tuy nhiên, từ cuối 1997, do ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ, đồng đô la Singapore đã bị mất giá 20% và tăng trưởng kinh tế năm 1998 giảm mạnh chỉ còn 1,3%. Từ 1999, Singapore bắt đầu phục hồi nhanh: Năm 1999, tăng trưởng 5,5%, và năm 2000 đạt hơn 9%. Do ảnh hưởng của sự kiện 11 tháng 9, suy giảm của kinh tế thế giới và sau đó là dịch SARS, kinh tế Singapore bị ảnh hưởng nặng nề: Năm 2001, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt -2,2%, 2002, đạt 3% và 2003 chỉ đạt 1,1%. Từ 2004, tăng trưởng mạnh: năm 2004 đạt 8,4%; 2005 đạt 5,7%; năm 2006 đạt 7,7% và năm 2007 đạt 7,5%. Năm 2009, GDP chỉ tăng 1,2% do tác động của khủng hoảng kinh tế.

Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Singapore đang thực hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singapore thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và châu Á và một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm kinh doanh.

Giao thông

Một đoàn thuyền chạy trên sông Singapore về đêm

Hệ thống giao thông công chánh ở Singapore rất phát triển. Chất lượng đường bộ của đảo quốc này được đánh giá là vào loại tốt nhất thế giới. Giao thông tại Singapore được vận hành theo mô hình của Anh, trái với giao thông tay phải của châu Âu lục địa.

Đường phố của Singapore

Singapore có nhiều loại phương tiện giao thông công cộng, trong đó hai phương tiện phổ biến nhất là xe bus (hơn 3 triệu lượt người mỗi ngày, năm 2010) và tàu điện ngầm mà người Singapore thường gọi là MRT (Mass Rapid Transit) (hơn 2 triệu lượt người mỗi ngày, năm 2010). Người đi xe bus trả tiền mua vé cho từng chặng, ngoại trừ trường hợp họ có thẻ từ tự động EZlink (thẻ này cho phép họ sử dụng dịch vụ của xe bus giá rẻ và trong một thời gian dài). Hệ thống tàu điện ngầm của Singapore có 84 ga với chiều dài 129.9 km [76] và có giờ làm việc là từ 06:00 tới 24:00. Taxi cũng là một phương tiện giao thông khá phổ biến ở Singapore nhưng khá khó bắt và đắt trong giờ cao điểm.

Do Singapore có diện tích rất hẹp, nên chính quyền Singapore thường có những biện pháp đặc biệt để tránh tình trạng nghẽn xe, tắc đường. Hệ thống thuế giờ cao điểm ERP (Electronics Road Pricing) được đưa vào hoạt động trong khu vực trung tâm thành phố để giảm lưu lượng xe lưu thông qua các khu vực này vào giờ cao điểm. Số tiền này được trừ thẳng vào thẻ EZLink cài trên xe hơi. ERP có thể lên đến SGD15 nếu 1 chiếc xe chạy qua 5 trạm ERP trong khu vực nội thành.

Singapore cũng có phương tiện giao thông đường thủy phổ biến là thuyền máy nhỏ, tuy nhiên đa số chúng chỉ được dùng cho mục đích du lịch. Các du khách tới Singapore có thể tham quan thành phố bằng đường thủy trên sông Singapore trong những tour kéo dài khoảng 30 phút.

Nhân khẩu

Năm 2012, dân số Singapore là 5,312 triệu người, trong đó 3,285 triệu (62%) là công dân Singapore và những người còn lại (38%) là những cư dân thường trú hoặc công nhân/học sinh ngoại quốc. 23% công dân Singapore sinh ra bên ngoài Singapore. Có một triệu cư dân thường trú tại Singapore vào năm 2012. Số cư dân này không tính đến 11 triệu du khách tạm thời đến tham quan Singapore mỗi năm.

Tuổi thọ trung bình của người Singapore là 82 tuổi và quy mô hộ gia đình trung bình là 3,5 người. Do khan hiếm đất, 4/5 người Singapore sống trong các căn hộ được trợ cấp, cao tầng, công cộng được gọi là các căn hộ Cục Nhà ở và Phát triển (HDB), theo sau việc cục chịu trách nhiệm đối với nhà ở công tại quốc gia. Có gần 200.000 người giúp việc gia đình tại Singapore.

Năm 2010, tỷ lệ sở hữu nhà tại Singapore là 87,2%. Điện thoại di động thâm nhập với tỷ lệ rất cao là 1.400 điện thoại di động trên 1000 người. Khoảng 1/10 cư dân sở hữu một ô tô.

Tổng tỷ suất sinh được ước tính là 0,79 trẻ em trên mỗi phụ nữ vào năm 2013, đây là tỷ lệ thấp nhất thế giới và thấp hơn tỷ lệ cần thiết là 2,1 để thay thế dân số. Để khắc phục vấn đề này, chính phủ Singapore khuyến khích người ngoại quốc nhập cư đến Singapore trong vài thập niên gần đây. Một lượng lớn người nhập cư giúp cho dân số của Singapore không suy giảm. Singapore có truyền thống là một trong những quốc gia phát triển có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất, tỷ lệ thất nghiệp tại đây không vượt quá 4% trong thập kỷ qua, chạm mức cao 3% trong khủng hoản tài chính toàn cầu 2009 và giảm xuống 1,9% vào 2011.

Năm 2009, khoảng 40% cư dân Singapore là người ngoại quốc, một trong những tỷ lệ cao nhất trên thế giới. Công nhân ngoại quốc chiếm 80% lao động trong ngành xây dựng và chiếm 50% trong ngành phục vụ.

Năm 2009, điều tra dân số của chính phủ báo cáo rằng 74,2% cư dân là người gốc Hoa, 13,4% là người gốc Mã Lai, và 9,2% là người gốc Ấn Độ, người Âu-Á và các nhóm khác chiếm 3,2%. Trước năm 2010, mỗi cá nhân chỉ có thể đăng ký làm thành viên của một chủng tộc, mặc định theo phụ hệ, do đó, những người hỗn chủng được xếp theo nhóm chủng tộc của người cha. Từ năm 2010 trở đi, người dân có thể đăng ký theo phân loại kép, trong đó họ có thể chọn một chủng tộc chính và một chủng tộc thứ, song không quá hai.

Tôn giáo

Tôn giáo tại Singapore (Pew Research)[93][94]

Tôn giáo

 

 

Tỷ lệ

 

Phật giáo

  

35%

Ki-tô giáo

  

19%

Không tôn giáo

  

16%

Hồi giáo

  

14%

Khác
(chủ yếu là Đạo giáo)

  

10%

Ấn Độ giáo

  

5%

Dân gian

  

3%

Phật giáo là tôn giáo được thực hành phổ biến nhất tại Singapore, với 33% số cư dân tuyên bố bản thân họ là tín đồ đạo Phật trong cuộc điều tra dân số gần đây nhất. Tôn giáo được thực hành phổ biến thứ nhì là Ki-tô giáo, sau đó là Hồi giáo, Đạo giáo, và Ấn Độ giáo. 17% dân số không gia nhập tôn giáo nào. Tỷ lệ tín đồ Ki-tô giáo, Đạo giáo, và người không tôn giáo tăng trong khoảng thời gian giữa năm 2000 và 2010, mỗi nhóm tăng 3%, trong khi tỷ lệ tín đồ Phật giáo thì giảm xuống. Các đức tin khác vẫn ổn định trên quy mô lớn về tỷ lệ dân số.

Tại Singapore có các chùa và trung tâm Phật pháp từ cả ba tông phái truyền thống chính của Phật giáo: Thượng tọa bộ, Đại thừa, và Kim cương thừa. Hầu hết tín đồ Phật giáo tại Singapore là người Hoa và theo truyền thống Đại thừa. Đại thừa Trung Hoa là tông phái Phật giáo chiếm ưu thế nhất tại Singapore, với các hòa thượng truyền giáo đến từ Đài Loan và Trung Quốc trong vài thập kỷ gần đây. Tuy nhiên, Phật giáo Thượng tọa bộ từ Thái Lan ngày càng phổ biến trong cư dân Singapore (không chỉ người Hoa) trong thập niên qua. Học hội Sáng giá Quốc tế là một tổ chức Phật giáo của Nhật Bản, hiện được nhiều người thực hành theo tại Singapore, song hầu hết họ là người gốc Hoa. Phật giáo Tây Tạng cũng xâm nhập chậm vào quốc đảo trong những năm gần đây.

Ngôn ngữ

Tiếng mẹ đẻ của người Singapore[97]

Ngôn ngữ

 

 

Tỷ lệ

 

tiếng Trung Quốc

  

49.9%

tiếng Anh

  

32.3%

tiếng Mã Lai

  

12.2%

tiếng Tamil

  

3.3%

Singapore có bốn ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh, tiếng Mã Lai, Quan thoại, và Tamil. Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến tại quốc đảo và là ngôn ngữ của kinh doanh, chính phủ, và là phương tiện giảng dạy trong trường học. Các cơ cấu công cộng tại Singapore quản lý công việc của họ bằng tiếng Anh, và các tài liệu chính thức được viết bằng các ngôn ngữ chính thức khác như tiếng Hoa, tiếng Mã Lai, hay tiếng Tamil thường phải được dịch sang tiếng Anh để việc đệ trình được chấp nhận. Hiến pháp Singapore và toàn bộ các luật được viết bằng tiếng Anh, và người dịch được yêu cầu nếu một người muốn nói chuyện với tòa án bằng một ngôn ngữ không phải tiếng Anh. Tuy nhiên, tiếng Anh chỉ là ngôn ngữ mẹ đẻ của một phần ba người Singapore, với khoảng một phần ba người Singapore gốc Hoa, một phần tư người Singapore gốc Mã Lai và một nửa người Singapore gốc Ấn Độ có ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Anh. 20% người Singapore không thể đọc hoặc viết bằng tiếng Anh.

Nhiều người Singapore là người song ngữ trong tiếng Anh và ngôn ngữ chính thức khác, với mức độ lưu loát khác nhau. Xếp hạng các ngôn ngữ chính thức về tỷ lệ đọc viết là tiếng Anh (80% biết đọc viết), Quan thoại (65% biết đọc viết), Mã Lai (17% biết đọc viết), và Tamil (4% biết đọc viết). Tiếng Anh-Singapore dựa trên tiếng Anh-Anh,[106] và các dạng tiếng Anh được nói tại Singapore biến thiên từ "tiếng Anh-Singapore chuẩn" đến một thứ tiếng bồi gọi là "Singlish". Singlish bị chính phủ ngăn trở quyết liệt.

Tiếng Hoa là ngôn ngữ mẹ đẻ của nhiều người Singapore nhất, chiếm một nửa trong số họ. Quan thoại Singapore là phương ngôn tiếng Hoa phổ biến nhất tại quốc đảo, với 1,2 triệu người sử dụng nó làm ngôn ngữ nói tại nhà. Gần nửa triệu người nói các phương ngôn tiếng Hoa khác, chủ yếu là tiếng Phúc Kiến, tiếng Triều Châu, và tiếng Quảng Đông, như ngôn ngữ tại nhà của họ, song việc sử dụng các phương ngôn này đang suy giảm khi thế hệ sau này chuyển sang Quan thoại và tiếng Anh.

Chính phủ Singapore chọn tiếng Mã Lai làm ngôn ngữ quốc gia sau khi giành độc lập từ Anh Quốc trong thập niên 1960 nhằm tránh xích mích với các láng giềng — Malaysia và Indonesia — những quốc gia nói tiếng Mã Lai. Việc này mang mục đích biểu tượng hơn là chức năng. Ngôn ngữ này được sử dụng trong quốc ca "Majulah Singapura", trong các trích dẫn của hệ thống thứ bậc và huy chương của Singapore, và trong chỉ huy quân sự. Ngày nay, về tổng thể, tiếng Mã Lai được nói trong cộng đồng người Singapore gốc Mã Lai, chỉ 16,8% người Singapore biết đọc viết tiếng Mã Lai và chỉ 12% sử dụng nó làm ngôn ngữ mẹ đẻ.

Khoảng 100.000, hay 3%, người Singapore nói tiếng Tamil như ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Tamil có địa vị chính thức tại Singapore và không có nỗ lực nào nhằm ngăn cấm việc sử dụng các ngôn ngữ Ấn Độ khác.

Giáo dục-Y tế

Giáo dục các cấp tiểu học, trung học, và đại học hầu hết được nhà nước hỗ trợ. Toàn bộ các tổ chức dù là công hay tư đều phải được đăng ký với Bộ Giáo dục. Tiếng Anh là ngôn ngữ giảng dạy trong toàn bộ các trường học công, và toàn bộ các môn học được dạy và thi bằng tiếng Anh ngoại trừ bài luận bằng "tiếng mẹ đẻ". Trong khi thuật ngữ "tiếng mẹ đẻ" về tổng thể tầm quốc tế là đề cập đến ngôn ngữ thứ nhất, song nó được sử dụng nhằm đề cập đến ngôn ngữ thứ hai trong hệ thống giáo dục của Singapore, do tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất. Các học sinh ở tại nước ngoài trong một thời gian, hoặc gặp khó khăn với "tiếng mẹ đẻ" của họ, được phép có một đề cương giản hóa hoặc bỏ qua môn học.

Giáo dục gồm ba giai đoạn: tiểu học, trung học, và tiền đại học, trong đó chỉ có cấp tiểu học là bắt buộc. Học sinh bắt đầu với 6 năm tiểu học, gồm 4 năm cơ sở và hai năm định hướng, chương trình giảng dạy tập trung vào phát triển Anh ngữ, bản ngữ, toán học, và khoa học. Trung học kéo dài 4-5 năm, và được phân thành các ban Đặc thù, Nhanh, Phổ thông (Học thuật), và Phổ thông (Kỹ thật) trong mỗi trường, dựa theo trình độ năng lực của mỗi học sinh. Phân loại chương trình cơ bản tương tự cấp tiểu học, song các lớp học chuyên biệt hơn nhiều. Giáo dục tiền đại học diễn ra trong 2-3 năm tại các trường cao đẳng, hầu hết gọi là Học viện sơ cấp. Một số trường học được tự do trong chương trình giảng dạy của mình và được gọi là trường tự chủ. Các trường này tồn tại từ cấp trung học trở lên.

Các kỳ thi quốc gia được tiêu chuẩn hóa trong tất cá các trường học, với một bài kiểm tra được thực hiện sau mỗi giai đoạn. Sau sáu năm giáo dục đầu tiên, học sinh tham gia khảo thí rời tiểu học (PSLE), nó quyết định vị trí của họ tại trường trung học. Cuối giai đoạn trung học, khảo thí GCE trình độ "O" được tiến hành; vào cuối giai đoạn tiền đại học sau đó, khảo thí GCE trình độ "A" được tiến hành. Năm 2005, trong toàn bộ người Singapore 15 tuổi và lớn hơn mà không còn là học sinh, có 18% không có trình độ giáo dục.

Singapore có một hệ thống chăm sóc y tế hiệu quả về tổng thể, dù chi phí y tế tại đây tương đối thấp so với các quốc gia phát triển. Tổ chức Y tế Thế giới xếp hạng hệ thống y tế của Singapore đứng thứ 6 về tổng thể trong Báo cáo Y tế thế giới 2000. Singapore có tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh thấp nhất thế giới trong hai thập niên qua. Tuổi thọ trung bình (năm 2012) tại Singapore là 83, trong khi số liệu toàn cầu là 70. Hầu như toàn bộ dân cư được tiếp cận với nước và điều kiện vệ sinh được cải thiện.

Văn hóa

Một cảnh tượng trên phố Trung Hoa tại Singapore dịp Tết Nguyên Đán.

Singapore là một quốc gia đa dạng và non trẻ, với nhiều ngôn ngữ, tôn giáo, và văn hóa. Khi Singapore độc lập từ Anh Quốc vào năm 1963, hầu hết công dân là những lao động không có học thức đến từ Malaysia, Trung Quốc và Ấn Độ. Nhiều người trong số họ là những lao động ngắn hạn, đến Singapore nhằm kiếm một khoản tiền và không có ý định ở lại. Ngoại trừ người Peranakan (hậu duệ của người Hoa nhập cư vào thế kỷ 15-16) đảm bảo lòng trung thành của họ với Singapore, thì hầu hết người lao động trung thành với quê hương của họ. Sau khi độc lập, quá trình thiết lập một bản sắc Singapore được khởi động.

Các cựu thủ tướng Lý Quang Diệu và Ngô Tác Đồng từng tuyên bố rằng Singapore không thích hợp với mô tả truyền thống về một quốc gia, gọi đây là một xã hội quá độ, chỉ ra thực tế rằng không phải toàn bộ người Singapore nói cùng một ngôn ngữ, chia sẻ cùng một tôn giáo, hoặc có phong tục tương đồng. Mặc dù tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất của quốc gia, song theo điều tra nhân khẩu năm 2010 của chính phủ thì có 20% người Singapore không biết đọc viết bằng tiếng Anh, con số này vào năm 1990 là 40%. Chính phủ nhận định sự hài hòa chủng tộc và tôn giáo là bộ phận quan trọng trong thành công của Singapore, và đóng vai trò quan trọng trong việc kiến thiết một bản sắc Singapore.

Quốc hoa của Singapore là Vanda 'Miss Joaquim', được đặt tên theo một phụ nữ Armenia sinh tại Singapore, bà phát hiện loài hoa này trong vườn nhà tại Tanjong Pagar vào năm 1893. Nhiều phù hiệu quốc gia như quốc huy Singapore và biểu tượng đầu sư tử Singapore sử dụng hình tượng sư tử, do Singapore được mệnh danh là 'Thành phố Sư tử'. Các ngày lễ công cộng tại Singapore bao trùm các lễ chính của người Trung Hoa, Tây phương, Mã Lai, Ấn Độ.

Ở tầm quốc gia, Singapore là một xã hội bảo thủ, song xuất hiện một số sự tự do hóa. Ở cấp độ quốc gia, trọng dụng nhân tài được chú trọng cao độ, mỗi cá nhân được đánh giá dựa trên năng lực của họ.

Ẩm thực cùng với mua sắm được cho là những hoạt động tiêu khiển quốc gia tại Singapore. Sự đa dạng của thực phẩm được quảng cáo là một trong những lý do để đến thăm đảo quốc, và sự đa dạng của thực phẩm đại diện cho các dân tộc khác nhau, chính phủ nhận định đây là một tương trưng cho sự đa dạng văn hóa của đảo quốc. "Quốc quả" của Singapore là sầu riêng.

Từ thập niên 1990, chính phủ xúc tiến các hoạt động nhằm biến Singapore thành một trung tâm nghệ thuật và văn hóa, đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn, và biến đổi quốc gia thành một "cửa ngõ giữa phương Đông và phương Tây".

Các môn thể thao đại chúng tại Singapore gồm có bóng đá, bóng rổ, cricket, bơi, đi thuyền, bóng bàn và cầu lông. Hầu hết người Singapore sống trong các khu chung cư gần các tiện ích như hồ bơi, bên ngoài có sân bóng rổ và khu thể thao trong nhà. Các môn thể thao dưới nước phổ biến tại đảo quốc, trong đó có đi thuyền, chèo thuyền kayak và lướt ván. Lặn biển là một môn thể thao tiêu khiển phổ biến khác, đảo Hantu đặc biệt nổi tiếng với các rạn san hô phong phú. Giải bóng đá của Singapore mang tên S-League được hình thành vào năm 1994, Singapore bắt đầu tổ chức một vòng thi đấu của giải vô địch công thức 1 thế giới, Singapore Grand Prix, vào năm 2008. Singapore tổ chức Thế vận hội trẻ kỳ đầu tiên, vào năm 2010

Các công ty có liên kết với chính phủ kiểm soát hầu hết truyền thông nội địa tại Singapore. MediaCorp vận hành hầu hết các kênh truyền hình và phát thanh phát sóng miễn phí tại Singapore. Có tổng cộng 7 kênh truyền hình phát sóng miễn phí do Mediacorp cung cấp. Các kênh Channel 5 (tiếng Anh), Channel News Asia (tiếng Anh), Okto (tiếng Anh), Channel 8 (tiếng Trung), Channel U (tiếng Trung), Suria (tiếng Mã Lai) và Vasantham (tiếng Ấn). StarHub Cable Vision (SCV) cung cấp dịch vụ truyền hình cáp với các kênh từ khắp thế giới[154] và Mio TV của SingTel cung cấp một dịch vụ IPTV.[155] Tập đoàn Singapore Press Holdings có liên hệ với chính phủ và kiểm soát hầu hết ngành báo chí tại Singapore. Các tổ chức nhân quyền như Freedom House đôi khi chỉ trích ngành truyền thông Singapore chịu quản lý quá mức và thiếu tự do. Năm 2010, Phóng viên không biên giới xếp hạng Singapore thứ 136 trong số 178 trong Chỉ số Tự do Báo chí của mình.

Giao thông

Cảng Singapore, hậu cảnh là đảo Sentosa

Do Singapore là một đảo quốc nhỏ với mật độ dân số cao, số lượng ô tô cá nhân trên đường bị hạn chế nhằm giảm ô nhiễm và tắc nghẽn. Những người mua ô tô phải trả thuế cao gấp 1,5 lần giá thị trường của phương tiện, và phải đấu giá cho một giấy chứng nhận quyền lợi (COE) để ô tô của họ được phép chạy trên đường trong một thập niên. Giá ô tô tại Singapore thường cao hơn đáng kể so với các quốc gia nói tiếng Anh. Giống như hầu hết các quốc gia trong Khối Thịnh vượng chung, các phương tiện đi trên đường và người đi bộ trên phố theo quy tắc bên trái.

Cư dân Singapore cũng di chuyển bằng cách phương thức đi bộ, xe đạp, xe buýt, taxi và tàu hỏa (MRT hoặc LRT). Hai công ty vận hành xe buýt công cộng và hệ thống giao thông tàu hỏa là SBS Transit và SMRT Corporation. Taxi là hình thức giao thông công cộng phổ biến do chi phí tương đối rẻ so với nhiều quốc gia phát triển khác.

Năm 2010, Singapore sở hữu một hệ thống đường bộ dài tổng cộng 3.356 kilômét (2.085 mi), trong đó có 161 kilômét (100 mi) đường cao tốc. Kế hoạch giấy phép khu vực Singapore được thi hành vào năm 1975, là kế hoạch giải quyết tắc nghẽn thông qua phí đầu tiên trên thế giới, gồm các biện pháp bổ sung như hạn ngạch sở hữu ô tô nghiêm ngặt và cải thiện giao thông công cộng. Năm 1998, nó được nâng cấp và đổi tên thành phí đường bộ điện tử, hệ thống thực hiện thu thuế điện tử, phát hiện điện tử, và giám sát bằng video.

Cảng Singapore là cảng nhộn nhịp hàng đầu thế giới. Singapore là một trung tâm hàng không tại Đông Nam Á, và là điểm dừng chân của tuyến Kangaroo giữa Sydney và Luân Đôn. Singapore có 8 cảng hàng không, Sân bay quốc tế Singapore Changi sở hữu một mạng lưới gồm trên 100 hãng hàng không kết nối Singapore với khoảng 300 thành thị tại khoảng 70 quốc gia và lãnh thổ trên toàn cầu.

Vài so sánh

Diện tích Singapore chỉ bằng huyện Cần Giờ của TP.HCM với dân số 5,2 triệu dân tuy nhiên thu nhập bình quân đầu người của họ gấp 30 lần mức thu nhập bình quân đầu người của VN.

Theo biểu đồ, trước năm 1975, thu nhập bình quân của người Singapore ở mức rất thấp, tương đương với Việt Nam bấy giờ.

Theo một nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, nếu thu nhập của người Singapore đứng yên trong vòng 158 năm nữa thì thu nhập của người VN sẽ đuổi kịp thu nhập của người Singapore vào năm 2011.

Biểu đồ thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam và Singapor

Vì sao Singapor phát triển thần kỳ

Nước Singapore có diện tích chỉ 660 km2, rộng hơn thành phố Hà Nội của Việt Nam một chút. Đi xe máy một lèo hơn 30 phút là đi xuyêt hết cả đất nước. Dân số chỉ gần 5 triệu người, xấp xỉ dân số Sài Gòn. Tài nguyên thiên nhiên hoàn toàn không có gì cả. Chỉ có con người, và một ít đất để ở. Năm 1960, GDP của Singapore chỉ là 0,7 tỷ đô-la Mỹ, thu nhập bình quân đầu người chỉ là 427 đô-la Mỹ/ năm. Thế mà năm 2005, GDP của Singapore đã là hơn 116 tỷ đô-la Mỹ, thu nhập bình quân đầu người là 26,892 đô-la Mỹ/năm. Nước Singapore hiện nay là nước có thu nhập bình quân đầu người lớn thứ 2 ở châu Á, sau Nhật Bản và nằm trong hàng các nước tiên tiến, văn minh, giàu có nhất trên thế giới.

Vị thế của nước Singapore nhỏ bé cũng rất lớn trên trường quốc tế. Singapore là một trong những nước sáng lập ra khối ASEAN. Năm nay 2007, nước Singapore giữ chức Chủ tịch ASEAN.

Còn nước Việt Nam ta có diện tích gấp hơn 50 lần nước Singapore, dân số gấp gần 20 lần, tài nguyên thiên nhiên cũng phong phú, dồi dào hơn Singapore nhiều, nhưng GDP của ta năm 2005 chỉ là xấp xỉ 60 tỷ đô-la Mỹ, thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 500 đô-la Mỹ/năm.

Vì sao nước Singapore đạt được sự phát triển thần kỳ như vậy? Và ông Cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapre có thể đến nước ta để có lời khuyên chân thành, giúp các nhà lãnh đạo nước ta về kinh nghiệm phát triển đất nước.

Nước Singapore là thuộc địa của Anh từ năm 1826. Đến năm 1946, nước Singapore giành được tư cách nước độc lập, nhưng vẫn nằm trong Khối liên hiệp Anh. Năm 1954, ông Lý Quang Diệu, một luật sư trẻ tốt nghiệp ở Anh đã tham gia sáng lập ra Đảng Nhân dân Hành động (PAP: People`s Action Party) của Singapore. Và chỉ 5 năm sau khi ra đời, đảng PAP của ông Lý Quang Diệu đã giành được thắng lợi trong bầu cử. Năm 1959, ông Lý Quang Diệu- Tổng bí thư đảng PAP đã trở thành vị Thủ tướng người Singapore đầu tiên của nước Singapore độc lập nằm trong Khối liên hiệp Anh. Khi đó luật sư Lý Quang Diệu mới 36 tuổi.

Năm 1963, Singapore tham gia vào Liên bang Malaysia, nhưng chỉ 2 năm sau, đến năm 1965 lại tách ra thành nước độc lập.

Ông Lý Quang Diệu, Tổng bí thư đảng PAP, đã làm Thủ tướng Singapore suốt 31 năm, từ năm 1959, đến năm 1990.

Đảng PAP của ông Lý Quang Diệu đã lãnh đạo đất nước Singapore từ khi giành được độc lập từ người Anh năm 1959 đến nay, cũng giống như Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam từ ngày giành được độc lập từ người Pháp năm 1945 đến nay. Những kinh nghiệm mà Singapore làm được rất cần để chúng ta học tập.

Trọng dụng người tài

Kinh nghiệm đầu tiên có thể thấy được là đảng PAP của ông Lý Quang Diệu tập hợp được rất nhiều người tài, người có học vấn cao. Là người lãnh đạo, thì cần phải có nhiều người tài. Không có tài, thì không thể lãnh đạo được. Đó là ý kiến của ông Lý Quang Diệu. Bản thân ông Tổng bí thư Lý Quang Diệu đã tốt nghiệp ngành luật ở trường đại học danh tiếng Cambridge của Anh năm 1949, khi ông 26 tuổi.

Vị Tổng bí thư thứ hai của đảng PAP, và cũng là vị Thủ tướng thứ hai của Singapore, từ năm 1990 đến năm 2004, là ông Goh Chok Tong, tốt nghiệp tại trường Đại học danh tiếng Williams College, Mỹ, về chuyên ngành Phát triển kinh tế.

Vị Tổng bí thư thứ ba của đảng PAP, tức là Thủ tướng thứ 3 hiện nay của Singapore Lý Hiển Long, con trai cả của ông Lý Quang Diệu, sinh năm 1952, cũng đã tốt nghiệp trường Đại học Cambridge của Anh về ngành toán và vi tính. Sau đó ông Lý Hiển Long còn học về Hành chính công tại đại học Harvard - Mỹ.

Các đại biểu quốc hội Singapore là người của đảng PAP và các bộ trưởng cũng là người của đảng PAP, cũng đều tốt nghiệp các trường đại học nổi tiếng trên thế giới. Ông Phó thủ tướng Jayakumar, đảng viên đảng PAP, phụ trách về an ninh quốc gia đã tốt nghiệp tại khoa Luật, trường Đại học Yale Law của Mỹ. Đây là trường đại học mà vợ chồng ông Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã học. Ông Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao George Yong-Boon Yeo, đảng viên đảng PAP, sinh năm 1954, cũng tốt nghiệp trường Cambridge của Anh. Ông Bộ trưởng Chánh Văn phòng Nội các Lim Swee Say, sinh năm 1954, đảng viên đảng PAP, tốt nghiệp trường Loughborough của Anh. Ông Bộ trưởng Bộ quốc phòng Teo Chee Hean, sinh năm 1954, tốt nghiệp trường Đại học Hoàng gia Imperial College London - Anh.

Quan điểm của ông Tổng bí thư đảng kiêm Thủ tướng Lý Quang Diệu về trọng dụng, thu hút nhân tài đã được đảng PAP thực hiện triệt để, rất có hiệu quả. “Lãnh đạo xấu sẽ đuổi người tốt,người giỏi, không cho họ được giữ những chức vụ quan trọng”, ông Lý Quang Diệu đã có lần nói như vậy. Nước Singapore không những tìm và sử dụng người tài trong công dân Singapore, mà còn thu hút nhân tài từ nước khác đến. Người tài đến Singapore làm việc, được định cư lâu dài, và được gia nhập quốc tịch Singapore dễ dàng.

Đảng PAP trực tiếp lãnh đạo đất nước

Kinh nghiệm thứ hai là người của đảng Nhân dân hành động PAP của ông Lý Quang Diệu trực tiếp nắm các vị trí lãnh đạo đất nước. Tổng bí thư đảng luôn luôn nắm chức Thủ tướng. Các đảng viên cao cấp nắm các chức Bộ trưởng. Từ đó mà đường lối của đảng PAP được thự hiện trực tiếp qua các đảng viên nắm chức vụ lãnh đạo Nhà nước.

Tiếng Anh là quốc ngữ

Kinh nghiệm thứ ba để phát triển đất nước Singapore là đào tạo tiếng Anh, đưa tiếng Anh lên làm ngôn ngữ chính thức, cùng với tiếng Hoa. Ông Lý Quang Diệu lãnh đạo đảng PAP để giành độc lập cho nhân dân Singapore từ người Anh, bỏ sự lãnh đạo của người Anh, nhưng ông không bỏ tiếng Anh. Và cả bộ máy hành chính mà người Anh xây dựng lên ở Singapore trong hơn 100 năm đô hộ, nước Singapore cũng không bỏ. Ông Lý Quang Diệu cho tiếp thu tất cả nền hành chính tiên tiến đó. Nhân dân được tự do cư trú, quyền tư hữu không bị xóa bỏ.

Ở nước Việt Nam ta, sau khi giành độc lập từ người Pháp, thì ta cũng bỏ luôn tiếng Pháp. Và những cung cách quản lý hành chính tiên tiến, khoa học, không nhiều quan liêu giấy tờ do Pháp xây dựng lên ở nước ta cũng không được tiếp tục áp dụng.

Về tầm quan trọng của tiếng Anh, ông Lý Quang Diệu nói: “-Nắm vững tiếng Anh, đó là chìa khóa để giành lấy tri thức, công nghệ cao của phương Tây”.

Nhà nước dân chủ, tôn trọng dân

Kinh nghiệm thứ tư của Singapore là xây dựng một nhà nước dân chủ, tôn trọng dân. Ông Lý Quang Diệu nói “Nếu chúng ta không ra sức làm việc, thì khi nhân dân mất lòng tin, tội lỗi sẽ thuộc về chúng ta.,Khi nhân dân đã mất hết lòng tin, thì họ sẽ đòi hỏi một chính phủ kiểu khác”. Ông Lý Quang Diệu cho rằng người dân không quan tâm lắm đến thể chế, hình thức chính phủ, mà họ quan tâm đến “ họ có được một chính phủ được thành lập qua bầu cử, họ có khả năng bầu ra chính phủ của họ và chính phủ sẽ đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho họ và cho con cháu mai sau”.

Chống tham nhũng

Kinh nghiệm thứ năm là kiên quyết chống tham nhũng. Ông Lý Quang Diệu nói “Sự sống còn của Singapore hoàn toàn dựa vào sự liêm khiết và hiệu suất của các bộ trưởng và quan chức cao cấp của Chính phủ”. Ông nhiều lần khẳng định “nhân dân quyết không thể dung tha những phần tử đầu cơ và lưu manh”. Về độ trong sạch của bộ máy nhà nước, Singapore được xếp thứ 5 trong năm 2005, thuộc hàng trong sạch nhất thế giới. Nhưng muốn chống tham nhũng tốt và muốn thu hút được nhân tài, phải trả lương xứng đáng.

Vào năm 1985, ông Lý Quang Diệu khi đó nói rằng nước Singapore có 676 người giàu có thuế thu nhập nộp ngân sách còn cao hơn lương các Bộ trưởng. Nhưng 3 vị bộ trưởng Tài chính, Quốc phòng, và Nhà ở có vai trò quan trọng cho nước Singapore hơn 676 vị có thu nhập cao kia. Và tiền lương trả cho toàn bộ bộ máy Chính phủ Singapore năm 1985 đó chỉ là hơn 2,5 triệu đô-la Mỹ. Trong khi bộ máy Chính phủ đó quản lý một đất nước có GDP là 17 tỷ đô-la Mỹ (1985). Còn công ty Vận tải biển Singapore chỉ làm ra doanh số hơn 1 tỷ đô-la Mỹ, nhưng tiền lương của lãnh đạo cao cấp của công ty đó là gần 2 triệu đô-la Mỹ.

Từ đó ông Lý Quang Diệu quyết tâm tăng lương cho các vị trí chủ chốt lãnh đạo đất nước. Hiện nay tiền lương của các Bộ trưởng và Thủ tướng Singapore thuộc hàng cao nhất trên thế giới. Lương của Thủ tướng Singapore cao gấp gần 2 lần Thủ tướng Nhật và Tổng thống Mỹ, tức khoảng gần nửa triệu USD một năm. Lương các Bộ trưởng cũng ở dưới mức đó một chút.

Những kinh nghiệm của Singapore rất đáng để VN chúng ta nghiên cứu học hỏi. Họ làm được và trở thành một con rồng của Châu Á, còn chúng ta thì sao?

Minh Tuấn (Từ Tokyo) Việt Báo (Theo_ Dân trí )

 

 

Lý Quang Diệu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Sự phát triển của đất nước Singapor gắn liền với tên tuổi nhà lập quốc Lý Quang Diệu.

Lý Quang Diệu (16 tháng 9 năm 192323 tháng 3 năm 2015) là Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Singapore, ông đảm nhiệm chức vụ này từ năm 1959 đến năm 1990.

Mặc dù đã rời bỏ chức vụ thủ tướng, ông vẫn được xem là một chính trị gia có ảnh hưởng nhất tại đảo quốc này. Ông tiếp tục phục vụ trong chính phủ của thủ tướng Ngô Tác Đống trong cương vị Bộ trưởng Cao cấp.

Cho đến khi qua đời Lý Quang Diệu giữ một chức vụ được kiến tạo riêng cho ông, Bộ trưởng Cố vấn (Minister Mentor) dưới quyền lãnh đạo của con trai ông, Lý Hiển Long, thủ tướng thứ ba của Singapore (nhậm chức ngày 12 tháng 8 năm 2004), và là người thứ hai thuộc gia tộc Lý đảm nhiệm cương vị này. Ông còn được biết đến trong vòng thân bằng quyến hữu với tên "Harry".

Xuất thân

Theo cuốn hồi ký của ông, Lý Quang Diệu là thế hệ thứ tư thuộc một gia đình người Khách Gia định cư tại Singapore. Ông cố Lee Bok Boon (sinh năm 1846), rời bỏ quê nhà thuộc huyện Đại Bộ, tỉnh Quảng Đông để đến Singapore vào năm 1863. Ông lấy con gái của một ông chủ hiệu là Seow Huan Nio, và đã trở về Trung Quốc vào năm 1882, bỏ lại vợ và ba đứa con. Lee Bok Boon đã xây dựng một thái ấp nhỏ ở quê nhà và mất 2 năm sau đó.]

Ông của Lý Quang Diệu tên là Lee Hoon Leong, sinh tại Singapore năm 1871, lúc đó đang là thuộc địa Anh. Ông đã được hưởng nền giáo dục ở Anh tại Học viện Raffles, và trở thành người chuyên bào chế thuốc không hợp pháp, sau đó chuyển sang làm người phụ trách tài chính trên tàu hơi nước được sở hữu bởi một chủ người Hoa, Oei Tiong Ham.. Lee Hoon Leong, ở tuổi 26 đã lấy Ko Liem Nio, lúc đó 16 tuổi tại Semarang, Java, thuộc địa Đông Ấn Hà Lan (Hiện tại thuộc Indonesia).[4] Đây là cuộc đám cưới được gia đình 2 bên sắp đặt theo phong tục truyền thống. Gia đình 2 bên đều thuộc tầng lớp trung lưu. Cả cô dâu và chú rể đều được hưởng nền giáo dục Anh quốc. Ông ngoại Lee Hoon Leong sở hữu bất động sản và việc mua bán cao su tại đường Orchard. Lee Hoon Leong cuối cùng trở thành giám đốc quản lý của công ty Heap Eng Moh Steamship.

Ông Lee Hoon Leong có 2 người vợ, là việc bình thường vào thời đó, là cha của 5 người con gái và 2 người con trai. Con trai của ông là Lee Chin Koon cũng đã được hưởng nền giáo dục Anh quốc sau đó đã lấy Chua Jim Neo, là mẹ của ông Lý Quang Diệu. Lý Quang Diệu chào đời trong một nhà lều rộng và thoáng tại số 92 đường Kampong Java, Singapore. Ngay từ khi còn bé, văn hoá Anh đã có ảnh hưởng đậm nét trên Lý, một phần là do ông nội, Lee Hoon Leong, đã cho các con trai của mình hấp thụ nền giáo dục của Anh. Cũng chính ông nội đã cho cậu bé Lý tên Harry để thêm vào tên Quang Diệu mà người cha đặt cho con mình.

Tài sản của ông Lý Quang Diệu bị tiêu tán do ảnh hưởng của cuộc Đại khủng hoảng, và do đó làm cho cha ông, Lee Chin Koon trở thành một chủ cửa hiệu nghèo.

Ngày 30 tháng 9 năm 1950, Lý Quang Diệu kết hôn với Kha Ngọc Chi. Cả 2 đều sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ mẹ đẻ. Ông Diệu do không sõi tiếng Trung Quốc nên đã bắt đầu học tiếng Trung Quốc vào năm 1955 ở độ tuổi 32. Ông Diệu lúc trưởng thành mới bắt đầu học tiếng Nhật và làm phiên dịch cho người Nhật trong khoảng thời gian Nhật Bản chiếm đóng Singapore. Họ có hai con trai và một con gái.

Vài thành viên trong gia tộc Lý đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong xã hội Singapore, các con trai và con gái của ông hiện giữ các chức vụ cao cấp trong chính quyền hoặc liên quan đến chính quyền.

Cậu con cả, Lý Hiển Long, cựu chuẩn tướng quân đội, từ năm 2004 là Bộ trưởng Tài chính và nay là Thủ tướng đương nhiệm. Lý Hiển Long cũng là Phó chủ tịch Ban quản trị Công ty Đầu tư Singapore (Lý Quang Diệu là chủ tịch).

Ho Ching (Hà Tinh), vợ của thủ tướng Lý Hiển Long, là giám đốc điều hành của Tamasek Holdings.

Con trai thứ của ông Lý, Lý Hiển Dương, cựu chuẩn tướng, hiện là chủ tịch và tổng giám đốc của Sing Tel, một tập đoàn truyền thông xuyên châu Á, cũng là công ty lớn nhất trong thị trường tư bản (liệt kê trên thị trường chứng khoán Singapore, SGX). Bảy mươi hai phần trăm cổ phần của Sing Tel thuộc quyền sở hữu của công ty Temasek Holdings, một công ty đầu tư của chính phủ có cổ phần nắm quyền kiểm soát tại những công ty có liên hệ với chính phủ như Singapore Airlines và ngân hàng DBS.

Con gái của ông Lý, Lý Vĩnh Linh, lãnh đạo Viện Khoa học Thần kinh Quốc gia, đến nay vẫn sống độc thân. Vợ của Lý Quang Diệu, bà Kha Ngọc Chi từng là thành viên của công ty luật nổi tiếng Lee & Lee. Các em trai của ông, Dennis, Freddy và Suan Yew đều là thành viên của công ty luật nói trên. Ông có một em gái tên Monica. Lý Quang Diệu luôn bác bỏ mọi cáo buộc về gia đình trị, cho rằng những vị trí đặc quyền mà các thành viên trong gia đình ông có được là nhờ những nỗ lực bản thân.

Thiếu thời

Ông Lý Quang Diệu và bà Kha Ngọc Chi học Đại học Raffles ở Singapore (hiện là Đại học Quốc gia Singapore). Bà Kha là nữ sinh duy nhất ở ngôi trường này. Ở trường, họ là những đối thủ trong học tập. Bà Kha luôn xếp thứ nhất ở môn tiếng Anh và Khoa học Kinh tế, còn ông Lý đứng thứ hai. Ông Lý nể phục cô bạn học này bởi bà luôn xuất sắc hơn ông. Ảnh: AsiaOnes.

Lý Quang Diệu theo học tại trường tiểu học Telok Kurau, ông cũng mô tả thời học tiểu học thành tích học tập của ông không có gì nổi bật. Sau đó ông theo học Học viện Raffles, ông đã phải nỗ lực để theo kịp vì tại đây có tới 150 học viên đứng đầu toàn Singapore. Ông đã vào được top đầu và tham gia phong trào hướng đạo trong 3 năm. Ông cũng tham gia các hoạt động thể dục thể thao như tennis, cricket, hay tham gia các buổi thảo luận của học viện.

Những năm đầu tại đại học Cambridge ông giành được nhiều học bổng và sau đó đã giành được tấm bằng hạng nhất của nhà trường và giành được học bổng John Anderson cho phép ông theo học đại học Raffles (hiện tại là Đại học quốc gia Singapore). Ông phải bỏ dở việc học khi Nhật Bản chiếm đóng Singapore suốt những năm 1942-1945 trong Đệ nhị thế chiến. Trong thời kỳ chiếm đóng, ông vận hành hiệu quả những thương vụ chợ đen tiêu thụ một loại keo tapioca gọi là Stikfas. Bắt đầu học tiếng Hántiếng Nhật từ năm 1942, ông làm việc với người Nhật trong công việc của một người ghi chép những bức điện báo của phe Đồng Minh, cũng như biên tập bản tiếng Anh cho tờ Hodobu (報道部 — thuộc ban thông tin tuyên truyền của người Nhật) từ năm 1943 đến năm 1944.

Bà Kha nhiều tuổi hơn ông Lý và là phụ nữ độc lập. Tháng 9/1946, ông Lý quyết định tới Anh để học luật và hy vọng bà Kha cũng sẽ đoàn tụ cùng ông tại đây khi giành được suất học bổng hàng năm của Nữ hoàng Anh cho sinh viên của Đại học Raffles. Nếu thất bại, bà Kha sẽ phải chờ bạn trai 3 năm khi ông Lý từ Anh trở về.Ảnh chụp ông Lý và bà Kha ở hồ chứa nước MacRitchie, Singapore, tháng 9/1946. Năm ấy, ông Lý mới 23 tuổi còn bà Kha đã 25 tuổi. Ảnh: AsiaOnes.

Sau chiến tranh, ông theo học luật tại Đại học Fitzwilliam, Đại học Cambridge tại Anh Quốc, và trong một thời gian ngắn, theo học tại Trường Kinh tế Luân Đôn. Năm 1949, Lý Quang Diệu trở về Singapore và hành nghề luật sư tại Laycock và Ong, một công ty luật của John Laycock, một nhà tiên phong trong các hoạt động đa chủng tộc, người cùng với A.P. Rajah và C.C. Tan, thành lập câu lạc đa chủng đầu tiên tại Singapore, thâu nhận người châu Á.

3/11 | Bố mẹ bà Kha thời điểm đó không kỳ vọng vào chàng thanh niên bỏ dở đại học lại không nghề nghiệp như ông Lý. Gia đình bà Kha cho rằng ông Lý không xứng đáng làm con rể họ. Tuy nhiên, bà Kha cuối cùng vẫn trung thành với lựa chọn của mình. Năm 1947, bà Kha nhận được suất học bổng sang Anh. Hai ông bà bí mật kết hôn ở Anh sau đó và mãi tới tháng 9/1950 khi trở về Singapore, họ mới chính thức làm đám cưới.Trong ảnh, ông bà Lý cắt bánh tại lễ cưới tổ chức ở khách sạn Raffles. Ảnh: AsiaOnes.

Sự nghiệp chính trị (1951–1959)

Trong hồi ký của ông Diệu, ông có nhắc đến dự định trở về Singapore để làm việc và khi trở về ông đã làm cho công ty luật John Laycock, với mức lương 500$/tháng. Ông trở thành người tư vấn luật cho các hoạt động thương mại và các tổ chức liên đoàn sinh viên.

Trước thời kỳ Đảng Hành động Nhân dân

Trải nghiệm đầu tiên của Lý Quang Diệu trên chính trường Singapore là vai trò một nhân viên vận động bầu cử cho ông chủ John Laycock dưới ngọn cờ của Đảng Tiến bộ (Progressive Party) thân Anh, trong cuộc bầu cử hội đồng lập pháp năm 1951. Song, Lý Quang Diệu dần dần nhận ra hậu vận đen tối của chính đảng này do thiếu sự ủng hộ của quần chúng, nhất là của giới lao động thuộc cộng đồng nói tiếng Hoa. Nhân tố này là đặc biệt quan trọng khi ủy ban Rendel, vào năm 1953, quyết định mở rộng quyền bầu cử cho tất cả người dân sinh tại địa phương, làm gia tăng đáng kể số cử tri người Hoa. Lý Quang Diệu tiến đến ngả rẽ chính trị của mình khi ông tham gia tư vấn pháp lý cho các nghiệp đoàn thương mại và sinh viên. Các nghiệp đoàn này cung cấp cho ông mối quan hệ với giới công nhân nói tiếng Hoa (về sau, đảng Hành động Nhân dân của ông sử dụng mối quan hệ lịch sử này như là một công cụ đàm phán trong các tranh chấp công nghiệp).

Thành lập Đảng Hành động Nhân dân

Ngày 21 tháng 11 năm 1954, Lý Quang Diệu cùng với một nhóm bạn hữu thuộc giai cấp trung lưu có học vấn Anh, những người mà ông miêu tả là "những tay tư sản nghiện bia", thành lập Đảng Hành động Nhân dân (PAP - 人民行动党) có khuynh hướng xã hội và liên minh với các nghiệp đoàn theo chủ nghĩa cộng sản. Một hội nghị sáng lập được tổ chức tại Victoria Memorial Hall, sảnh đường đầy cứng với 1.500 người ủng hộ và thành viên nghiệp đoàn. Lý Quang Diệu trở thành Tổng thư ký, chức vụ mà ông nắm giữ cho đến năm 1992, ngoại trừ một thời gian ngắn trong năm 1957. Tunku Abdul Rahman của Đảng UMNO và Tan Cheng Lock của MCA được mời làm quan khách nhằm tăng uy tín cho đảng vừa mới ra đời.

Đối lập

Lý Quang Diệu ra tranh cử và giành được chiếc ghế đại diện cho Tanjong Pagar trong cuộc tuyển cử năm 1955. Ông trở thành nhà lãnh đạo phe đối lập, chống lại chính phủ liên hiệp dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Lao động của David Saul Marshall. Ông cũng là một trong số hai đại diện của PAP đến tham dự những cuộc thương thảo về hiến pháp tổ chức tại Luân Đôn; cuộc thương thảo lần thứ nhất đặt dưới sự hướng dẫn của Marshall, lần thứ hai của Lâm Hữu Phúc. Chính trong giai đoạn này Lý Quang Diệu phải đấu tranh với các đối thủ cả trong lẫn ngoài đảng PAP.

Thủ tướng, trước khi độc lập (1959–1965)

Chính phủ tự trị (1959-1963)

Trong cuộc bầu cử toàn quốc ngày 1 tháng 6 năm 1959, PAP giành được 43 trong tổng số 51 ghế trong hội đồng lập pháp. Singapore giành quyền tự trị trong mọi lĩnh vực của đất nước ngoại trừ quốc phòng và ngoại giao, Lý Quang Diệu trở thành thủ tướng đầu tiên của quốc gia này vào ngày 3 tháng 6 năm 1959, thay thế thủ tướng Lâm Hữu Phúc. Trước khi nhậm chức ông yêu cầu trả tự do cho Lâm Thanh TườngDevan Nair, hai người này đã bị giam giữ bởi chính phủ Lâm Hữu Phúc.

Sau khi giành được quyền tự trị từ tay người Anh, Singapore phải đối diện với nhiều vấn đề xã hội như giáo dục, nhà ở và tình trạng thất nghiệp. Lý Quang Diệu cho thành lập Ban phát triển gia cư để bắt đầu chương trình xây dựng chung cư hầu làm giảm nhẹ sự thiếu hụt nhà ở.

Sáp nhập rồi tách khỏi Malaysia (1963–1965)

Sau khi thủ tướng của Malaysia, Tunku Abdul Rahman, đưa ra đề nghị thành lập một liên bang bao gồm Mã Lai, Singapore, Sabah, SarawakBrunei vào năm 1961, Lý Quang Diệu khởi phát chiến dịch đòi sáp nhập với Malaysia với mục đích chấm dứt sự cai trị của người Anh. Sử dụng những kết quả thu được từ cuộc trưng cầu dân ý tổ chức ngày 1 tháng 9 năm 1962, theo đó có đến 70% lá phiếu ủng hộ đề nghị của mình, Lý Quang Diệu tuyên bố nhân dân đứng về phía ông. Suốt trong chiến dịch Coldstore, Lý Quang Diệu tìm cách loại bỏ những thành phần chống đối kế hoạch sáp nhập.

Ngày 16 tháng 9 năm 1963, Singapore trở nên một phần của Liên bang Malaysia. Tuy nhiên, liên bang này không tồn tại được lâu. Chính quyền trung ương Malaysia, dưới sự lãnh đạo của Tổ chức Liên hiệp Dân tộc Mã Lai (UMNO), tỏ ra quan ngại về thành phần đa số của người Hoa ở Singapore cũng như những thách thức chính trị của PAP tại Malaysia. Lý Quang Diệu công khai chống lại chủ trương dân tộc cực đoan Mã Lai (bumiputra). Mối quan hệ giữa PAP và UMNO trở nên căng thẳng gay gắt. Một số người trong UMNO muốn bắt giữ ông.

Bạo động chủng tộc bùng nổ sau đó gần Kallang Gasworks vào dịp sinh nhật tiên tri Mohamet (ngày 21 tháng 6 năm 1964), có 25 người thiệt mạng khi người Hoa và người Mã Lai tấn công lẫn nhau. Đến nay vẫn còn tranh cãi về nguyên nhân của cuộc bạo động này, có người cho rằng một người Hoa đã ném chai lọ vào đám đông người Mã Lai trong khi có người nghĩ ngược lại, cho rằng một người Mã Lai đã làm điều này. Thêm những vụ bạo động bùng nổ trong tháng 9 năm 1964, khi đám đông cướp phá xe hơi và các cửa hiệu, khiến cả Tunku Abdul Rahman và Lý Quang Diệu phải xuất hiện trước công chúng nhằm xoa dịu tình hình. Trong lúc này giá thực phẩm tăng cao do tắc nghẽn giao thông, làm cho tình hình càng xấu hơn.

Không tìm ra phương cách giải quyết cuộc khủng hoảng, Tunku Abdul Rahman chọn lấy quyết định trục xuất Singapore ra khỏi Malaysia, "cắt đứt mọi quan hệ với chính quyền của một tiểu bang đã không đưa ra bất cứ biện pháp nào chứng tỏ lòng trung thành với chính quyền trung ương". Lý Quang Diệu cố gắng xoay xở để tìm ra một thỏa hiệp nhưng không thành công. Sau đó, do sự thuyết phục của Ngô Khánh Thụy (Goh Keng Swee), ông nhận ra rằng ly khai là điều không thể tránh khỏi. Ngày 7 tháng 8 năm 1965, Lý Quang Diệu ký thoả ước ly khai, trong đó có bàn về mối quan hệ sau ly khai với Malaysia hầu có thể tiếp tục duy trì sự hợp tác trong những lãnh vực như thương mại và quốc phòng.

Đây là một đòn nặng đánh vào Lý Quang Diệu, vì ông tin rằng sự hợp nhất là yếu tố căn cốt cho sự tồn vong của Singapore. Trong cuộc họp báo được truyền hình trực tiếp, oà vỡ trong xúc cảm, Lý Quang Diệu thông báo với dân chúng về quyết định ly khai:

“Đối với tôi, đây là một khoảnh khắc đau thương. Suốt cuộc đời tôi, suốt cuộc đời trưởng thành của tôi, tôi luôn tin tưởng vào sự kết hợp và thống nhất của hai vùng lãnh thổ... Ngay lúc này, tôi, Lý Quang Diệu, Thủ tướng Singapore, nhân danh nhân dân và chính quyền Singapore, tuyên bố rằng kể từ hôm nay, ngày 9 tháng 8 năm 1965, Singapore sẽ vĩnh viễn là một quốc gia độc lập, dân chủ với đầy đủ chủ quyền, lập nền trên những nguyên lý của quyền tự do và công bằng hầu mưu tìm phúc lợi và hạnh phúc cho nhân dân đang sinh sống trong một xã hội tối hảo, công bằng và bình đẳng”.

Cũng trong ngày ấy, 9 tháng 8 năm 1965, Quốc hội Malaysia biểu quyết thông qua nghị quyết cắt đứt quan hệ với tiểu bang Singapore, như vậy nước Cộng hoà Singapore được hình thành. Tân quốc không có tài nguyên thiên nhiên, không có nguồn nước và khả năng quốc phòng thì hết sức nhỏ bé. Nay Lý Quang Diệu phải đứng ra gánh vác trọng trách xây dựng đảo quốc mới vừa được khai sinh này.

Thủ tướng, sau độc lập (1965–1990)

Trong quyển hồi ký của mình, Lý Quang Diệu nói rằng ông không thể ngủ ngon và ngã bệnh sau ngày Singapore độc lập. Sau khi nghe Cao uỷ John Robb tường trình về hoàn cảnh của Lý Quang Diệu, Thủ tướng Anh Harold Wilson bày tỏ những quan ngại của mình và nhận được phúc đáp của Lý Quang Diệu:

“Đừng lo cho Singapore. Đồng sự của tôi và tôi là những người tỉnh táo và chừng mực, ngay cả trong thời điểm đau buồn này. Chúng tôi sẽ cân nhắc mọi hệ lụy có thể xảy ra khi quyết định cho bất cứ động thái nào trên bàn cờ chính trị...”

Lý Quang Diệu khởi sự tìm kiếm sự công nhận của quốc tế cho quốc gia Singapore độc lập. Ngày 21 tháng 9 năm 1965, Singapore gia nhập Liên Hiệp Quốc, và ngày 8 tháng 8 năm 1967, gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ngày 25 tháng 5 năm 1973, Lý Quang Diệu chính thức viếng thăm Indonesia, chỉ vài năm sau chính sách đối đầu (Konfrontasi) dưới chế độ của Sukarno. Quan hệ giữa Singapore và Indonesia có những bước cải thiện căn bản nhờ những cuộc viếng thăm qua lại sau đó giữa hai nước.

Vì Singapore chưa bao giờ có một nền văn hoá chủ đạo để dân nhập cư có thể hoà nhập, cũng không có một ngôn ngữ chung, trong hai thập niên 19701980, cùng với các nỗ lực từ chính phủ và đảng cầm quyền, Lý Quang Diệu cố gắng kiến tạo một bản sắc chung cho Singapore.

Lý Quang Diệu và chính quyền luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chủ trương bao dung tôn giáo và hoà hợp chủng tộc, sẵn sàng sử dụng luật pháp để chống lại bất kỳ hiểm hoạ nào có thể kích hoạt bạo động tôn giáo và chủng tộc. Điển hình, Lý Quang Diệu đã cảnh cáo "việc truyền bá phúc âm cách thiếu nhạy cảm" khi đề cập đến những trường hợp các tín hữu Cơ Đốc chia sẻ đức tin của mình cho người Mã Lai (tuyệt đại đa số theo Hồi giáo). Năm 1974, chính phủ khuyến cáo Thánh Kinh Hội Singapore nên ngưng xuất bản các ấn phẩm tôn giáo bằng tiếng Mã Lai.

Chính sách

Trong cương vị lãnh đạo quốc gia suốt trong thời kỳ hậu độc lập, ông Lý có ba mối quan tâm chính: an ninh quốc gia, kinh tế và những vấn đề xã hội.

An ninh quốc gia

Tính dễ bị tổn thương của Singapore luôn được cảm nhận sâu sắc khi xảy ra các mối đe doạ từ nhiều phía khác nhau, trong đó có Indonesia (với chính sách đối đầu), cũng như thành phần cực đoan trong đảng UMNO, những người này muốn đem Singapore trở về với Malaysia. Ngay khi Singapore được gia nhập Liên Hiệp Quốc, Lý Quang Diệu vội vàng tìm kiếm sự công nhận của quốc tế dành cho nước Singapore độc lập. Theo gương Thuỵ Sĩ, ông tuyên bố chính sách trung lập và không liên kết. Cùng lúc, ông giao cho Ngô Khánh Thụy trọng trách xây dựng Lực lượng vũ trang Singapore và xin trợ giúp từ các quốc gia khác trong các lãnh vực tư vấn, huấn luyện và cung ứng quân dụng.

Năm 1967, khi người Anh tỏ ý cắt giảm hoặc triệt thoái quân đội khỏi Singapore và Malaysia, Lý Quang Diệu và Goh đưa ra chương trình quân dịch National Service nhằm phát triển một lực lượng trừ bị quy mô có thể huy động trong một thời gian ngắn. Tháng 1 năm 1968, ông mua một ít xe tăng AMX-13 do Pháp chế tạo, đến năm 1972, tổng số xe tăng tân trang được mua là 72 chiếc.

Sau này, Singapore thiết lập quan hệ quân sự với các quốc gia thành viên của ASEAN, với Hiệp ước Phòng thủ Ngũ Cường (Five-Powers Defense Agreement, FPDA) và các nước khác, giúp phục hồi nền an ninh quốc gia sau cuộc triệt thoái ngày 31 tháng 10 năm 1971 của quân đội Anh.

Kinh tế

Tách rời khỏi Malaysia có nghĩa là mất luôn thị trường chung và thị trường nội địa. Khó khăn càng chồng chất khi quân đội Anh triệt thoái làm mất thêm 50.000 chỗ làm. Mặc dù người Anh ủng hộ những cam kết trước đó duy trì các căn cứ quân sự cho đến năm 1975, Lý Quang Diệu không muốn làm căng thẳng mối quan hệ với Luân Đôn. Ông tìm cách thuyết phục Harold Wilson cho phép chuyển đổi các cơ sở quân sự (như xưởng sửa chữa và đóng tàu của hải quân) cho các mục đích dân sự, thay vì phá huỷ chúng như theo luật của nước Anh. Với sự tư vấn của Tiến sĩ Albert Winsemius, Lý Quang Diệu dẫn đưa Singapore vào con đường công nghiệp hoá. Năm 1961, Ban Phát triển Kinh tế được thành lập với nhiệm vụ thu hút đầu tư nước ngoài, đưa ra những ưu đãi thuế hấp dẫn và xây dựng một lực lượng lao động lương thấp nhưng có kỷ luật lao động và tay nghề cao. Đồng thời chính phủ duy trì biện pháp kiểm soát chặt chẽ nền kinh tế, ban hành những quy định về phân phối đất đai, lao động và nguồn vốn. Tiến hành xây dựng hạ tầng cơ sở hiện đại như phi trường, hải cảng, đường sá và mạng lưới truyền thông. Ban Xúc tiến Du lịch cũng được thành lập để phát triển du lịch và tạo thêm việc làm. Trong vai trò lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế Singapore, Lý Quang Diệu nhận được sự hỗ trợ từ những bộ trưởng tài năng nhất, đặc biệt là Goh Keng Swee và Hon Sui sen. Họ cố xoay xở để hạ giảm tỷ lệ người thất nghiệp từ 14% trong năm 1965 xuống còn 4,5% vào năm 1973.

Ấn định ngôn ngữ chính thức

Lý Quang Diệu chọn Anh ngữ là ngôn ngữ công sở và ngôn ngữ chung cho các chủng tộc khác nhau, trong khi vẫn công nhận tiếng Mã Lai, tiếng Trung Hoatiếng Tamil là ngôn ngữ chính thức. Hầu hết trường học đều sử dụng tiếng Anh như là chuyển ngữ cho học tập, mặc dù tiếng mẹ đẻ vẫn được dạy trong trường học.

Lý Quang Diệu khuyến khích người dân ngưng sử dụng các phương ngữ của tiếng Hoa, và phát triển tiếng Phổ thông (Standard Mandarin) như một ngôn ngữ thay thế, chiếm lấy vị trí "tiếng mẹ đẻ" với mục tiêu xây dựng một ngôn ngữ giao tiếp chung cho cộng đồng người Hoa. Năm 1979, Lý Quang Diệu chính thức phát động phong trào nói tiếng Hoa phổ thông. Ông cho hủy bỏ tất cả chương trình truyền hình bằng tiếng địa phương, ngoại trừ các chương trình tin tức và nhạc kịch (phục vụ cho người lớn tuổi). Biện pháp này đã làm suy tàn các phương ngữ của tiếng Hoa; ngày nay người ta nhận ra rằng giới trẻ Singapore gốc Hoa không còn thông thạo khi sử dụng phương ngữ tiếng Hoa, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn khi tiếp xúc với ông bà của họ là những người chỉ biết nói tiếng Hoa địa phương.

Trong thập kỷ 1970, sinh viên tốt nghiệp từ Đại học Nanyang nói tiếng Hoa gặp trở ngại khi kiếm việc làm vì không thông thạo tiếng Anh, ngôn ngữ cần có tại chỗ làm, đặc biệt là trong khu vực công. Lý Quang Diệu phải sử dụng biện pháp triệt để bằng cách sáp nhập Đại học Nanyang vào Đại học Singapore để trở thành Đại học Quốc gia Singapore. Động thái này gây ảnh hưởng lớn trên các giáo sư nói tiếng Hoa vì họ buộc phải dạy bằng tiếng Anh. Những người có công xây dựng Đại học Nanyang cũng lên tiếng chống đối vì những tình cảm ràng buộc với trường này.

Qui chế chính phủ

Giống các quốc gia châu Á khác, Singapore cũng không miễn nhiễm đối với nạn tham nhũng. Lý Quang Diệu nhận thức rõ rằng tham nhũng là một trong những nguyên do dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Trung Hoa Dân quốc tại Trung Hoa. Ông ban hành những luật lệ cần thiết dành cho Văn phòng Điều tra Tham nhũng (Corrupt Practices Investigation Bureau, CPIB) nhiều quyền hạn hơn để bắt giữ, lục soát, triệu tập nhân chứng, điều tra các tài khoản ngân hàng và các khoản hoàn trả thuế lợi tức của những cá nhân bị tình nghi cùng với gia đình của họ. Với sự ủng hộ của Lý Quang Diệu, CPIB được giao thẩm quyền tiến hành các cuộc điều tra đối với bất kỳ viên chức hoặc bộ trưởng nào. Trong thực tế, sau đó đã có vài bộ trưởng bị cáo buộc tham nhũng.

Lý Quang Diệu tin rằng các bộ trưởng nên được trả lương cao để duy trì một chính quyền sạch và chân thật. Năm 1994, ông đề nghị nối kết mức lương của bộ trưởng, thẩm phán và viên chức công quyền cao cấp với mức lương của giới chuyên nghiệp hàng đầu trong khu vực tư, vì ông cho rằng như thế sẽ giúp tuyển mộ và duy trì nhiều tài năng phục vụ trong khu vực công.

Năm 1983, Lý Quang Diệu gây ra nhiều tranh cãi gay gắt về hôn nhân khi ông lên tiếng khuyến khích nam giới Singapore kết hôn với phụ nữ thuộc thành phần học thức. Ông bày tỏ mối quan ngại khi hiện có nhiều phụ nữ đã tốt nghiệp đại học vẫn chưa lập gia đình. Một số nhóm dân cư, trong đó có những phụ nữ tốt nghiệp đại học, tỏ ra giận dữ vì quan điểm này. Dù vậy, một cơ quan môi giới hôn nhân, Social Development Unit, đã được thành lập nhằm tạo điều kiện giao tiếp cho những người tốt nghiệp đại học của cả hai giới. Ông cũng đưa ra những biện pháp khuyến khích các bà mẹ học thức có ba hoặc bốn con, đảo ngược chiến dịch kế hoạch hoá gia đình "chỉ nên có hai con" trong hai thập niên 19601970.

Bang giao với Malaysia

Mahathir bin Mohamad

Mahathir bin Mohamad

Lý Quang Diệu mong muốn cải thiện quan hệ với Mahathir bin Mohamad ngay từ khi Mahathir được bổ nhiệm vào chức vụ phó thủ tướng. Nhận biết rằng Mahathir đang ở vị trí chuẩn bị cho chức thủ tướng Malaysia, năm 1978 ông mời Mahathir (thông qua tổng thống Singapore lúc ấy là Devan Nair) đến thăm Singapore. Cuộc viếng thăm lần đầu và những lần sau đó giúp cải thiện mối quan hệ cá nhân giữa hai nhà lãnh đạo cũng như mối bang giao giữa hai quốc gia. Mahathir yêu cầu Lý Quang Diệu cắt đứt quan hệ với các thủ lĩnh gốc Hoa thuộc đảng Hành động Dân chủ (tại Malaysia); đổi lại, Mahathir cam kết không can thiệp vào các vấn đề của người Singapore gốc Mã Lai.

Tháng 12 năm 1981, Mahathir quyết định thay đổi múi giờ của bán đảo Mã Lai để tạo nên một múi giờ thống nhất cho toàn thể đất nước Malaysia, Lý Quang Diệu chấp nhận sự thay đổi này vì những lý do kinh tế và xã hội. Nhờ vậy, mối quan hệ giữa hai phía càng được cải thiện trong năm 1982.

Tháng 1 năm 1984, Mahathir áp đặt thuế RM100 trên tất cả phương tiện vận chuyển từ Malaysia sang Singapore. Khi Musa Hitam cố phản đối chính sách này của Mahathir, thuế suất được tăng gấp đôi với mục đích ngăn cản việc sử dụng cảng biển của Singapore, vì vậy một sự đổ vỡ trong bang giao giữa hai nước trở nên rõ ràng.

Tháng 6 năm 1988, Lý Quang Diệu và Mahathir tiến tới một thoả thuận chung tại Kuala Lumpur về việc xây dựng đập Linggui trên sông Johor. Năm 1989, Lý Quang Diệu tìm cách thăm dò lập trường của Mahathir khi muốn dời những trạm hải quan đường sắt từ Tanjong Pagar ở miền Nam Singapore đến Woodlands ở đoạn cuối Causeway, một phần do sự gia tăng nạn buôn lậu ma tuý vào Singapore. Điều này gây bất bình tại Malaysia, vì một vùng đất sẽ thuộc về Singapore khi đường sắt ngưng hoạt động. Mahathir giao cho Daim Zainuddin, khi ấy là bộ trưởng tài chính Malaysia, giải quyết vấn đề này.

Sau nhiều tháng thương thảo, hai bên đạt được thỏa thuận cùng phát triển ba vùng đất ở Tanjong Pagar, Kranji và Woodlands. Malaysia được 60% vùng đất, trong khi phần của Singapore là 40%. Thoả ước được ký kết ngày 27 tháng 11 năm 1990, một ngày trước khi Lý Quang Diệu nghỉ hưu.

Bộ trưởng Cao cấp (1990–2004)

Sau khi lãnh đạo đảng PAP giành được chiến thắng trong 7 cuộc bầu cử, ngày 28 tháng 11 năm 1990, Lý Quang Diệu quyết định về hưu và bàn giao chức vụ thủ tướng cho Ngô Tác Đống (Goh Chok Tong) con của Ngô Khánh Thụy. Ông là chính khách có quãng thời gian dài nhất phục vụ trong cương vị thủ tướng.

Cuộc chuyển giao quyền lãnh đạo được chuẩn bị và tiến hành hết sức chu đáo. Chu trình tuyển chọn và đào tạo thế hệ lãnh đạo thứ hai khởi sự từ đầu thập niên 1970. Trong thập niên 1980, Goh và các nhà lãnh đạo trẻ tuổi khác bắt đầu đảm nhận các vị trí quan trọng trong nội các. Trước cuộc chuyển giao, tất cả các nhà lãnh đạo thế hệ thứ nhất ("những cựu binh") đều về hưu, kể cả Ngô Khánh Thụy (Goh Keng Swee), S. Rajaratnam và Đỗ Tiến Tài (Toh Chin Chye). Vì được chuẩn bị tốt, cuộc chuyển giao không gây ra bất cứ biến động nào, mặc dù đây là cuộc chuyển giao quyền lực lần đầu tiên kể từ khi Singapore độc lập.

Khi Ngô Tác Đống đảm nhận vị trí lãnh đạo chính phủ, Lý Quang Diệu vẫn tiếp tục ở lại nội các trong cương vị bộ trưởng cao cấp và đưa ra những tư vấn. Trước công chúng, ông vẫn thường nhắc đến Ngô như là "thủ tướng của tôi" để bày tỏ sự tôn trọng dành cho thẩm quyền của Ngô. Tuy vậy, quan điểm của ông vẫn được lắng nghe trong công luận và trong các buổi họp nội các. Ông vẫn tiếp tục hành xử ảnh hưởng đặc biệt to lớn trên đảo quốc này và ông cũng sẵn lòng sử dụng ảnh hưởng ấy khi cần thiết. Như ông đã phát biểu trong ngày Quốc khánh năm 1988:

“Ngay cả khi nằm trên giường bệnh, ngay cả khi các bạn đem tôi đi mai táng, nếu tôi nhận thấy đang xảy ra một điều gì sai trái, tôi sẽ ngồi dậy ngay”.

Lý Quang Diệu cố tự kìm chế không can thiệp vào các biện pháp của chính phủ đối với các nước ASEAN, trong đó có Malaysia, vì không muốn dẫm chân người kế nhiệm Ngô Tác Đống. Dù vậy, ông vẫn giữ vai trò quan trọng trong các vấn đề kinh tế như thoả thuận với phó chủ tịch Lý Lam Thanh ngày 26 tháng 2 năm 1994 về việc chuyển đổi phần mềm hành chính công về quản trị và phát triển của Khu công nghiệp Tô Châu.

Bộ trưởng Cố vấn (2004–2015)

Ngày 12 tháng 8 năm 2004, Ngô Tác Đống rút lui để bàn giao chức vụ thủ tướng cho Lý Hiển Long, con trai đầu của Lý Quang Diệu. Goh trở thành bộ trưởng cao cấp và ông Lý đảm nhiệm một chức vụ mới được thành lập, Bộ trưởng Cố vấn (Minister Mentor).

Mặc dù chống đối bài bạc trong "cảm xúc và trí tuệ", Lý Quang Diệu không hành động chống lại đề án của Lý Hiển Long cho phép thành lập casino trên lãnh thổ Singapore. Ông nói: "Có casino hay không là điều mà những nhà lãnh đạo mới phải quyết định".

Gần đây, Lý Quang Diệu bày tỏ những quan ngại về ảnh hưởng đang suy giảm của tiếng Hoa phổ thông trong giới trẻ Singapore. Trong một bài diễn văn đọc trước quốc hội, ông nói: "Người Singapore cần phải học để thông thạo cả tiếng Anh và tiếng Hoa phổ thông". Sau đó, vào tháng 1 năm 2005, ông cho xúc tiến một chương trình truyền hình gọi là 华语 Cool!, trong nỗ lực thu hút giới trẻ đến với tiếng Hoa phổ thông.

Ngày 12 tháng 6 năm 2005, trong một cuộc phỏng vấn thực hiện bởi Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV), ông Lý nhấn mạnh đến nhu cầu liên tục đào tạo những nhân tài lãnh đạo đất nước, ông nói:

“Chúng ta cần những nhà lãnh đạo là những người có tầm nhìn xa và rộng, có đầu óc minh mẫn và phóng khoáng, có khả năng nắm bắt cơ hội như chúng ta đã làm... Nhiệm vụ của tôi là tìm ra người kế nhiệm xứng đáng. Tôi đã tìm ra họ, và họ đang ở đây; bây giờ đến lượt họ phải tìm ra người kế nhiệm cho mình. Như thế cần có sự liên tục tìm kiếm và đào tạo những nhà lãnh đạo có năng lực, chân thật, tận tụy và tài năng, là những người làm việc không phải vì mình, mà vì nhân dân và đất nước”.

Kết quả hình ảnh cho vợ thủ tướng lý quang diệu

Bệnh nặng và qua đời

Từ đầu tháng 2 năm 2015, Lý Quang Diệu đã phải điều trị ở bệnh viện vì bị viêm phổi. Văn phòng thủ tướng của con trai cả ông nói ngày 17.03 là tình trạng đã xấu đi vì ông bị nhiễm trùng, ngày hôm sau lại càng trầm trọng trong đơn vị chăm sóc đặc biệt.

Ông Lý Quang Diệu qua đời lúc 3 giờ 18 phút (giờ địa phương) ngày 23 tháng 3 năm 2015, khi đang điều trị tại Bệnh Viện Singapore General, Singapore, hưởng thọ 91 tuổi. Thông tin từ Văn phòng thủ tướng Lý Hiển Long nêu rõ, do tuổi cao và bị bệnh viêm phổi cấp tính nên ông qua đời.

Giá trị và niềm tin

Tổng thống George W. Bush chào đón Lý Quang Diệu tại Phòng Bầu dục, 16 tháng 10, 2006.

Lý Quang Diệu là một trong số những người ủng hộ các giá trị châu Á, mặc dù cách giải thích của ông về các giá trị này thường gây tranh cãi. Trong thập kỷ 1980, ông tích cực cổ xuý các giá trị châu Á như Nho giáo, hoặc ở mức độ ít hơn, các đức hạnh của Phật giáo. Điều này được thể hiện trong những lần viếng thăm của ông đến các đền chùa Trung Hoa.

Lý Quang Diệu luôn phát biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo Nho đối với xã hội Singapore. Bản thân ông năm 1985 đã được bầu làm Chủ tịch Hội Khổng học thế giới.

Trong một cuộc phỏng vấn với báo The Straits Times, ông nói rằng ông là người theo thuyết bất khả tri (agnostic).

Di sản và hồi ức

Di sản

Qua ba thập kỷ nhiệm quyền của Lý Quang Diệu, Singapore từ một quốc gia đang phát triển nay đứng trong hàng ngũ những quốc gia phát triển nhất thế giới, mặc cho dân số ít ỏi, diện tích nhỏ bé và tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn. Lý Quang Diệu thường nói rằng tài nguyên duy nhất của Singapore là người dân và tinh thần làm việc hăng say của họ. Ông nhận được sự kính trọng của nhiều người Singapore, đặc biệt là những người lớn tuổi, họ luôn nhớ đến khả năng lãnh đạo của ông trong thời kỳ độc lập và tách rời khỏi Malaysia. Lý Quang Diệu vẫn thường được xem là nhà kiến trúc cho sự phú cường của Singapore ngày nay, mặc dù vai trò này có sự đóng góp đáng kể của phó thủ tướng, Tiến sĩ Goh Keng Swee, nhân vật chịu trách nhiệm xây dựng và phát triển nền kinh tế Singapore.

Phê phán

Mặt khác, một số người trong và ngoài nước, cho rằng Lý Quang Diệu là người chủ trương dành đặc quyền lãnh đạo đất nước cho giới thượng lưu tinh hoa (elitism), hoặc có cả những cáo buộc ông là một nhà lãnh đạo chuyên quyền. Người ta thuật lại rằng có lần Lý Quang Diệu từng nói ông thích được sợ hơn là được thương.

Lý Quang Diệu cũng bị chỉ trích vì đã áp dụng những biện pháp cứng rắn nhằm đàn áp phe đối lập và quyền tự do ngôn luận., cấm biểu tình nơi công cộng mà không có giấy phép của cảnh sát, hạn chế các ấn phẩm và sử dụng các luật lệ về tội phỉ báng để đẩy những đối thủ chính trị của ông vào tình trạng phá sản. Về vấn đề này, năm 1999 Devan Nair, cựu tổng thống Singapore lúc đó sống tha hương ở Canada, trong một cuộc phỏng vấn với tờ báo The Globe and MailToronto đưa ra nhận xét rằng chiến lược của Lý Quang Diệu là khởi kiện đối thủ của ông cho đến khi họ phá sản hay thân bại danh liệt, như vậy chẳng khác gì thủ tiêu các quyền chính trị. Nair cho rằng Lý Quang Diệu "ngày càng trở nên loại người tự cho mình biết đủ và biết đúng mọi sự", cũng như bị vây quanh bởi "những kẻ bù nhìn". Phản ứng với những nhận xét này, Lý Quang Diệu lại đâm đơn khởi kiện Nair tại một tòa án tại Canada và Nair đã kiện ngược lại.

Trong một trường hợp, sau khi toà kháng án bác bỏ một phán quyết của toà dưới có lợi cho Lý Quang Diệu, chính phủ bèn hủy bỏ quyền kháng án. Suốt trong thời gian đảm nhiệm chức thủ tướng từ 1965 đến 1990, Lý Quang Diệu đã bỏ tù Tạ Thái Bảo (Chia Thye Poh), một cựu dân biểu quốc hội thuộc đảng đối lập Barisan Socialis, trong 22 năm mà không xét xử, chiếu theo Luật An ninh Nội chính, ông này chỉ được trả tự do vào năm 1989. Cũng vậy, để có thể dành quyền hạn tuyệt đối cho các thẩm phán, Lý Quang Diệu đã huỷ bỏ luật "Xét xử có bồi thẩm đoàn" tại toà án.

Vụ kiện phỉ báng

Vào năm 2010 ông Diệu, cùng với con trai là Lý Hiển Long, và ông Goh Chok Tong, dọa sẽ đưa hãng The New York Times Company, mà làm chủ tờ báo International Herald Tribune ra tòa, vì một bài báo có tựa là 'All in the Family (tất cả trong gia đình)' được viết vào ngày 15 tháng 2 2010 bởi Philip Bowring, một nhà báo tự do và trước đó là chủ bút tờ Far Eastern Economic Review. Báo International Herald Tribune xin lỗi vào tháng 3 là độc giả của bài báo này có thể ' phỏng đoán là Lý con không xứng đáng để đạt được chức vụ thủ tướng'. The New York Times Company và Bowring cũng đồng ý trả SG$60,000 cho Lý Hiển Long, SG$50,000 cho Diệu và SG$50,000 cho Goh (tổng cổng khoảng US$114,000 vào lúc đó), cộng thêm với tiền luật sư. Câu chuyện bắt nguồn từ một dàn xếp vào năm 1994 giữa 3 lãnh tụ đề cập tới nền chính trị kiểu cha truyền con nối tại các nước Đông Á, bao gồm cả Singapore. Trong cuộc thỏa thuận, Bowring đồng ý là không có ý nói Lý Hiển Long đạt được chức vụ là do chủ trương gia đình trị của cha ông là Lý Quang Diệu. Phản ứng lại việc này, tổ chức bảo vệ thông tin báo chí Reporters Without Borders viết một lá thư công khai bảo Diệu và các viên chức cao cấp của chính phủ Singapore hãy ngưng ngay đơn tố tụng phỉ báng này đối với các ký giả.

Hồi ký

Lý Quang Diệu đã viết hai cuốn hồi ký dài hai tập: Câu chuyện Singapore, trình bày quan điểm của ông về lịch sử Singapore cho đến khi tách rời khỏi Malaysia năm 1965, và Từ thế giới thứ ba đến thế giới thứ nhất: Câu chuyện Singapore, thuật lại sự chuyển đổi của Singapore để trở thành; quốc gia thuộc thế giới thứ nhất.

Cảm nhận

Tổng thống Hoa Kỳ, Obama: " Ông ta là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử, mà sẽ được tưởng nhớ trong nhiều thế hệ như là người cha của một nước Singapore tân tiến và là một chiến lược gia tài giỏi về quan hệ Á Châu"

Ông Lý Quang Diệu và vợ là bà Kha Ngọc Chi.

Bí quyết tuyển dụng nhân tài của Lý Quang Diệu

Từ một hòn đảo nhỏ không tài nguyên, Singapore phát triển vũ bão. Một nguyên nhân quan trọng giúp Singapore đạt được thành công này là bí quyết tuyển dụng nhân tài của ông Lý Quang Diệu.

Trong thế kỷ 20 có không ít chính trị gia quốc tế đã thay đổi diện mạo đất nước bằng những chính sách hiệu quả. Ví dụ, Đặng Tiểu Bình là người thúc đẩy quá trình chuyển đổi kinh tế của Trung Quốc, còn Helmut Kohl giúp thống nhất nước Đức. Nhưng các nhà lãnh đạo này đến từ những quốc gia lớn, có nguồn tài nguyên tự nhiên và lực lượng lao động dồi dào.

Ngược lại, ông Lý Quang Diệu có rất ít điều kiện để thành công. Singapore bị trục xuất khỏi Liên bang Malaysia năm 1965. Singapore khi đó chỉ là một hòn đảo nhỏ, dân số ít ỏi, không có tài nguyên.

Ở thời điểm đó, chưa có một mô hình thành phố - nhà nước nào để Chính phủ Singapore học hỏi. Quan điểm chung khi đó là quốc gia Singapore độc lập sẽ khó tồn tại lâu.

Tài nguyên duy nhất

Ngay khi đó, ông Lý Quang Diệu khẳng định tài sản lớn nhất mà Singapore sở hữu chỉ là nguồn nhân lực. Ông Lý Quang Diệu tin rằng cung cấp các điều kiện tốt nhất để những cá nhân tài năng đạt thành công là cách duy nhất để Singapore vươn lên.

Trên thực tế, giới sử học nhận định một trong những nguyên nhân khiến Singapore bị trục xuất khỏi Liên bang Malaysia là ông Lý Quang Diệu đề xuất một hệ thống chính trị với cơ chế trọng dụng nhân tài.

“Trao cơ hội bình đẳng cho mọi người bất chấp địa vị, chủng tộc, tôn giáo hay giới tính, chúng ta có thể khai thác được những điều tốt đẹp nhất từ người dân. Hãy trao cho họ cơ hội tốt nhất để tự hoàn thiện, tận dụng năng lực bản thân. Nếu giăng lưới đủ rộng để bao quát toàn bộ dân số, chúng ta sẽ càng có nhiều cơ hội tìm thấy những nhân tài hàng đầu” - ông Lý Quang Diệu khẳng định như thế vào năm 1966.

Ông Lý Quang Diệu không chỉ nói mà thực sự xây dựng được một cơ chế tuyển dụng nhân tài để tạo điều kiện cho các cá nhân xuất sắc vươn lên bất kể chủng tộc, ngôn ngữ hay tôn giáo. Đó không phải là điều dễ dàng bởi trong thập niên 1960, Singapore là một xã hội đa sắc tộc và có nhiều chia rẽ. Nhiều người gốc Hoa vẫn cho rằng Singapore chỉ là ngôi nhà tạm của họ và Trung Quốc mới là tổ quốc.

Giống như cách điều hành một tập đoàn với nguồn nhân lực đa dạng, ông Lý Quang Diệu xây dựng nên một bản sắc chung để thuyết phục họ ở lại Singapore, chung tay xây dựng tương lai. Điều đầu tiên ông làm là trao cho mỗi công dân “một phần miếng bánh” để họ xác định Singapore là đất nước của mình.

Chính phủ Lý Quang Diệu thực hiện chính sách xây nhà công để mọi người dân mua trả góp và sở hữu nhà thay vì phải đi thuê mướn. Khi tất cả mọi người đều đã có phần của riêng mình, họ hiểu rằng mình sẽ phải đấu tranh, phải vươn lên vì tương lai của chính mình cũng như tương lai của đất nước.

Cơ hội bình đẳng sản sinh tài năng

Trong cuốn Hard choices (Những lựa chọn khó khăn), nhà nghiên cứu Donald Low đánh giá chế độ nhân tài của Singapore là “nguyên tắc quản trị cốt lõi” của đất nước, là một “hệ tư tưởng quốc gia”.

Theo ông Low, với chế độ nhân tài nhà nước Singapore “cố gắng bình đẳng hóa các cơ hội chứ không phải là kết quả. Chính phủ phân chia phần thưởng dựa trên năng lực và thành tích của các cá nhân“.

Điều đó có nghĩa là tất cả mọi người đều có cơ hội cạnh tranh để tìm kiếm thành công. Và những người giỏi nhất sẽ được lựa chọn. Cựu thủ tướng Goh Chok Tong cũng từng khẳng định: “Chế độ nhân tài là một hệ thống giá trị, trong đó sự tiến bộ của xã hội dựa trên năng lực và thành tích của mỗi cá nhân”. Hoàn toàn không có sự phân biệt đối xử.

Về vấn đề này, ông Lý Quang Diệu giải thích rất rõ ràng năm 1966: “Trong bất kỳ xã hội nào, trong số hàng nghìn đứa trẻ sinh ra mỗi năm có một số đạt gần mức thiên tài, một số trung bình, một số yếu kém. Tôi luôn tự hỏi những người gần thiên tài và trên trung bình sẽ làm gì. Tôi tin rằng họ là những người sẽ định hình tương lai. Đó là những người sẽ thay đổi xã hội”.

Ông nhấn mạnh Chính phủ Singapore muốn xây dựng một xã hội bình đẳng và cơ hội bình đẳng cho tất cả moi người. “Nhưng đừng tự lừa dối bản thân rằng hai con người khác nhau sẽ ngang bằng về sức bền, ý chí, quyết tâm và năng lực. Tôi quan tâm đến những người có thể thực sự đóng góp cho xã hội, những người có thể đem lại sự thay đổi nếu như được đào tạo và có tính kỷ luật cần thiết”.

Đơn giản bởi ông Lý Quang Diệu muốn tuyển lựa những người tốt nhất để xây dựng một chính phủ thực sự năng động, hiệu quả nhằm thúc đẩy đất nước phát triển.

Bằng chứng của việc ông Lý Quang Diệu ưu tiên người tài bất kể chủng tộc hay tôn giáo là việc khi  ông lập nội các đầu tiên năm 1959, chỉ có hai trong số chín bộ trưởng là người sinh ra tại Singapore.

Từ đó đến nay tại Singapore những nhân vật xuất sắc có thể đến từ bất kỳ nhóm thiểu số nào. Ví dụ đương kim Phó thủ tướng Tharman Shanmugaratnam là người gốc Sri Lanka.

Giữ người tài bằng lương cao

Thành phố Singapore giàu đẹp và phát triển nhờ các chính sách của ông Lý Quang Diệu - Ảnh: RealSingapore

Quy trình tuyển chọn nhân tài của Đảng Hành động nhân dân (PAP) và Chính phủ Singapore rất khắt khe. Chỉ các ứng viên đã chứng tỏ được năng lực trong khu vực nhà nước và tư nhân mới được mời phỏng vấn nhiều vòng. Phần lớn các thành viên PAP hiện nay nếu muốn có vai trò lớn trong chính phủ đều có bằng cấp cao như thạc sĩ.

Để chiêu mộ nhân tài làm việc cho nhà nước, ông Lý Quang Diệu khẳng định cần phải trả lương cho các công chức một cách xứng đáng. “Dù là một cảnh sát, nhân viên di trú hay hải quan thì việc họ bị trả lương thấp là điều rất nguy hiểm” - ông nhấn mạnh.

Bởi nếu các công chức, bộ trưởng với kinh nghiệm và bằng cấp cao kiếm được ít hơn so với khu vực tư nhân thì chính phủ sẽ rất khó xây dựng được một  bộ máy mạnh. Mức lương cao cũng là giải pháp để chống nạn tham nhũng. Từ năm 1972, công chức Singapore đã được hưởng lương tháng 13 tương đương tiền thưởng cả năm của khu vực tư nhân.

Mức lương của nội các Singapore thuộc vào hàng cao nhất thế giới, thủ tướng hưởng khoảng 1,7 triệu USD/năm, các bộ trưởng cũng có mức thu nhập từ 1,1-1,7 triệu USD/năm.

Thủ tướng Lý Hiển Long, con trai ông Lý Quang Diệu, khẳng định đây là mức thu nhập “thực tế”, bởi Chính phủ Singapore cần những người giỏi nhất, đáng tin cậy nhất.

Mức lương cao ở Chính phủ Singapore cũng đồng nghĩa với các yêu cầu rất khắt khe. “Các quan chức không được phép làm bất cứ điều gì không chính đáng. Nếu phạm luật họ sẽ bị xử lý cực kỳ nghiêm khắc. Đây không chỉ là vấn đề lương bổng mà còn là vấn đề minh bạch” - ông Lý Quang Diệu khẳng định.

Nhờ đó, Chính phủ Singapore được Tổ chức Minh bạch quốc tế đánh giá thuộc vào loại trong sạch nhất thế giới. Các vụ tham nhũng dù có nhưng rất ít. Ông Lý Quang Diệu vẫn luôn trăn trở về việc hai cựu bộ trưởng trong nội các của ông đã nhận quà đắt tiền từ nhà thầu xây dựng. Một bị xử tù và một tự sát trước khi viết thư nhận tội.

Xây dựng đội ngũ kế thừa

Các chuyên gia đánh giá Singapore có lẽ là quốc gia duy nhất trên thế giới có một chính phủ dân bầu chủ động tuyển chọn và đào tạo đội ngũ lãnh đạo kế cận. PAP không chỉ tập trung vào việc thắng cử mà luôn tìm kiếm nhân tài để thay máu đội ngũ lãnh đạo. PAP có chương trình tuyển dụng nhân tài chặt chẽ và đưa họ vào các cuộc bầu cử.

PAP luôn để ý tìm kiếm những nhân tài ở cả khối nhà nước và tư nhân. Sau khi đánh giá các ứng cử viên, PAP mời họ “dự tiệc trà” (vòng phỏng vấn kiểm tra năng lực). Những người đạt chuẩn sẽ trải qua những cuộc phỏng vấn tiếp theo, phải đối mặt trực tiếp với các bộ trưởng nội các.

Trong các cuộc phỏng vấn, mọi ứng viên đều phải đưa ra được cách xử lý hàng loạt vấn đề khó khăn về quản trị, đạo đức, tôn giáo và cả những vấn đề cá nhân. Bởi nhân tài không chỉ là những cá nhân tài năng, thành đạt, có trình độ mà còn phải có sự chính trực, liêm minh.

Sau đó, họ sẽ được đẩy vào các cuộc bầu cử. Trong mỗi cuộc bầu cử, khoảng 25% ứng cử viên của PAP là các nhân vật mới, đến từ cả đảng này, khối dân sự và khối tư nhân. Ông Lý Quang Diệu đặt nặng vấn đề tuyển dụng các nhà lãnh đạo trẻ đến mức ông yêu cầu cứ mỗi kỳ bầu cử thủ tướng phải thay 25% nội các.

Các cựu binh của PAP phục vụ đất nước tận tụy rồi nhẹ nhàng ra đi, nhường chỗ cho những người trẻ hơn. Bản thân ông Lý Quang Diệu quyết định thôi làm thủ tướng năm 1990, khi ông vẫn còn rất sung sức và ở đỉnh cao quyền lực.

Ông Goh Chok Tong, người kế nhiệm ông, sau đó cũng trao lại chức vụ này cho ông Lý Hiển Long. Nhờ vậy hàng chục năm qua PAP vẫn luôn vững mạnh và giành được niềm tin của người dân Singapore.

Không thiên vị

Trong một cuộc phỏng vấn vài năm trước, tạp chí Đức Der Spiegel đặt câu hỏi với ông Lý Quang Diệu rằng liệu Singapore có tồn tại nạn con ông cháu cha, khi mà con trai ông là Lý Hiển Long trở thành thủ tướng.

Ông Lý Quang Diệu trả lời quyết liệt: “Chúng tôi điều hành một chế độ nhân tài. Nếu gia đình họ Lý ưu ái con ông cháu cha thì hệ thống của Singapore đã sụp đổ. Nếu tôi không làm thủ tướng thì con trai tôi có thể trở thành thủ tướng từ vài năm trước nữa. Tôi không cho phép bất kỳ thành viên gia đình nào không có trình độ được giữ chức vụ quan trọng. Đó sẽ là thảm họa đối với Singapore và di sản của tôi”.

Nếu xét tới các bằng cấp của ông Lý Hiển Long và những thành tựu ông đã đạt được với cương vị thủ tướng, chắc chẳng ai cáo buộc ông Lý Quang Diệu ưu ái con trai.

Theo Hiếu Trung

Tuổi Trẻ

 

Phong cách lãnh đạo độc đáo của Lý Quang Diệu

Đến từ một quốc gia rất nhỏ bé ở Đông Nam Á, nhưng cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu được đánh giá là một trong những nhà lãnh đạo vĩ đại nhất thế giới.

Ông Lý Quang Diệu trở thành thủ tướng Singapore từ năm 35 tuổi và liên tục tái đắc cử, nắm quyền trong suốt hơn 40 năm cho đến tận năm 1990. Học giả Mỹ Gerry Smedinghoff mô tả ông Lý Quang Diệu là “nhà lãnh đạo hình mẫu của thế kỷ 21” và “nhà lãnh đạo chính trị thời bình vĩ đại nhất trong thế kỷ 20”.

Cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đánh giá ông Lý Quang Diệu là “một trong những nhân vật vô song trong lịch sử”.

Đó không phải là đánh giá quá đáng đối với người đàn ông đã biến Singapore từ một hải cảng nhỏ bé, hoàn toàn không có tài nguyên trở thành một trong những quốc giàu giàu nhất, an toàn nhất và ổn định nhất thế giới. Rất nhiều nhà lãnh đạo thế giới từng công khai bày tỏ mong muốn được học tập tài lãnh đạo của ông Lý Quang Diệu.

Cựu thủ tướng Anh Tony Blair từng gửi một nhóm nghiên cứu tới Singapore để học hỏi các chương trình hưu trí và tiết kiệm của nước này. Bởi phần lớn những gì Singapore có được ngày nay đều nhờ vào tài lãnh đạo phi thường của ông Lý Quang Diệu.

Nhà lãnh đạo thẳng thắn

Các chuyên gia và những người từng tiếp xúc với ông Lý Quang Diệu thường mô tả ông là một nhà lãnh đạo có phong cách rất phương Tây dù ông xuất thân từ một gia đình gốc Hoa. Ông không bao giờ vòng vo tam quốc mà luôn thẳng thắn, trực tiếp, nghĩ gì nói nấy.

Ví dụ, khi đất nước Singapore mới thành lập còn gặp nhiều khó khăn, ông Lý Quang Diệu cương quyết không phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài.

Nói với người dân về việc không phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, ông từng nói: “Tôi tin rằng dân tộc ta không thể mang tư tưởng dựa dẫm nước ngoài. Nếu muốn thành công chúng ta phải tự lực”.

Ngày 9-9-1967 khi nói chuyện với các công nhân Singapore, ông Lý Quang Diệu thẳng thừng cảnh báo: “Thế giới không nợ gì chúng ta cả. Chúng ta không thể sống bằng chén cơm ăn mày”.

Khi giải thích với người dân lý do các quan chức chính phủ phải hưởng mức lương cao, ông Lý Quang Diệu nói một cách rất đơn giản: “Mức lương thấp chỉ thu hút những kẻ đạo đức giả, miệng hô to khẩu hiệu rằng muốn phục vụ nhân dân, nhưng khi lên nắm quyền thì lập tức thể hiện rõ bản chất và phá hoại đất nước”. Mục tiêu của ông là đảm bảo xây dựng một chính phủ trong sạch và trung thực.

Có lần một nhà báo hỏi ông Lý Quang Diệu rằng ông nghĩ gì khi bị chỉ trích là can thiệp quá sâu vào cuộc sống riêng tư của người dân Singapore. Ông trả lời một cách quyết liệt: “Nếu tôi không làm như thế thì chúng tôi đã không có ngày hôm nay, đã không thể tiến bộ về kinh tế. Tôi nói như vậy mà chẳng có gì hối tiếc cả”.

Ông khẳng định thêm: “Nếu chúng tôi không can thiệp vào những vấn đề cá nhân như hàng xóm của bạn là ai, bạn sống thế nào, bạn gây ồn ra sao, nhổ bậy hay ăn nói như thế nào… Chúng tôi quyết định điều gì là đúng và không cần biết người dân nghĩ gì”.

Ông Lý Quang Diệu từng tự hào nói: “Tôi từng bị buộc nhiều tội, nhưng kể cả kẻ thù tồi tệ nhất cũng chưa bao giờ buộc tội tôi là không dám nói thẳng suy nghĩ của mình”.

Không ít người cảm thấy bị sốc vì sự thẳng thắn của ông Lý Quang Diệu. Nhưng học giả Smedinghoff và đa số chuyên gia đều cho rằng phẩm chất đó đã giúp ông Lý Quang Diệu giành được niềm tin của người dân Singapore. Họ hiểu rằng họ có thể tin tưởng vào vị thủ tướng đầu tiên của đất nước.

“Có bao nhiêu nhà lãnh đạo đủ dũng khí để nói ra rõ ràng những suy nghĩ của mình như vậy?” - học giả Smedinghoff đặt câu hỏi.

Thủ tướng vì dân

Giáo sư Andrew Dubrin thuộc Viện Công nghệ Rochester (Mỹ), một chuyên gia về tổ chức và quản trị, đánh giá ông Lý Quang Diệu là hình mẫu của thủ tướng phục vụ nhân dân.

Đó là nhà lãnh đạo đặt lợi ích của đất nước và nhân dân trước lợi ích của bản thân. Ông luôn thể hiện sự quan tâm đến đời sống của người dân, các tiêu chuẩn kinh tế, xã hội và giáo dục của đất nước.

Một ví dụ cụ thể là khi ông Lý Quang Diệu lên nắm quyền vào năm 1959, đất nước Singapore phải đối mặt với hàng loạt khó khăn lớn. Đó là tỉ lệ thất nghiệp cao, người dân thiếu nhà trầm trọng, nạn tham nhũng hoành hành. Ông Lý Quang Diệu và các quan chức chính phủ cùng lúc thực hiện chương trình công nghiệp hóa, xây nhà giá rẻ và chống tham nhũng.

Đến thập niên 1980, GNP bình quân đầu người Singapore tăng hơn 10 lần lên 6.634 USD, tỉ lệ thất nghiệp xuống cực thấp và tỉ lệ người dân có nhà ở tăng lên tới 81%.

Đến đầu những năm 2000, khoảng 90% người dân Singapore đã có nhà. Nạn tham nhũng được xóa bỏ nhờ luật chống tham nhũng và sự hiệu quả của Cục Điều tra tham nhũng (CPIB) mà giám đốc trực tiếp dưới quyền điều hành của ông Lý Quang Diệu.

Chân dung ông Lý Quang Diệu trên bìa tạp chí Time - Ảnh: Time

Các chuyên gia đánh giá ông Lý Quang Diệu còn là nhà lãnh đạo luôn lắng nghe người dân. Là thủ tướng, ông luôn tham khảo ý kiến của mọi người dù bản thân ông là người ra quyết định cuối cùng.

Năm 1960, Chính phủ Singapore thành lập Hiệp hội nhân dân (PA) để thúc đẩy sự hài hòa xã hội và sắc tộc. PA tạo không gian cho mọi người dân Singapore gặp gỡ, trao đổi, đưa ra ý kiến. PA lập ra nhiều ủy ban, trong đó có Ủy ban tham vấn công dân (CCC) để tạo kênh kết nối giữa chính phủ và người dân.

Tiêu chuẩn đạo đức cao

Giáo sư Úc Carol Dalglish, chuyên gia nghiên cứu quản trị, và nhà báo - học giả Anh Alex Josey nhận định để trở thành một nhà lãnh đạo tài ba, một cá nhân cần phải có tiêu chuẩn đạo đức cao để người dân noi theo. Và ông Lý Quang Diệu là người có tiêu chuẩn đạo đức rất cao. Giá trị cốt lõi của ông Lý Quang Diệu là “đặt lợi ích của xã hội lên trên lợi ích cá nhân”.

Theo giáo sư Dalglish và học giả Josey, điều ông Lý Quang Diệu tin tưởng là tầm quan trọng của tự do, cuộc sống ấm no và hòa bình. Đó là nền tảng của đất nước Singapore hiện nay.

Ông cũng là một người có kỷ luật sắt, xuất phát từ kinh nghiệm tuổi thơ. Do đó ông đề ra các quy định pháp luật chặt chẽ và nghiêm khắc. Nhờ đó, tỉ lệ tội phạm ở đất nước Singapore rất thấp.

Nghiên cứu của Tổ chức Quản trị nguồn nhân lực (SHRM) cho biết nhà lãnh đạo tài ba cần có năm yếu tố. Đó là thành tích, tính cách, sự kiên định, khả năng thích nghi và sự linh hoạt.

Học giả Smedinghoff đánh giá thành tích của ông Lý Quang Diệu ai cũng biết, tính cách của ông thể hiện rõ ở việc Singapore là quốc gia rất trong sạch, không có tham nhũng.

Ông cũng là người vô cùng kiên định với sự lựa chọn của chính mình. Điều đó thể hiện ở 40 năm cầm quyền tại Singapore với các nguyên tắc ít khi thay đổi. Và ông cũng có khả năng thích nghi cao, thể hiện ở quãng thời gian khó khăn khi Nhật chiếm Singapore. Giới chuyên môn cho rằng ông chỉ có một điểm yếu là thiếu sự linh hoạt.

“Ông Lý Quang Diệu thể hiện được rất nhiều đặc điểm của một nhà lãnh đạo phi thường. Những thành công của ông cho thấy sự chăm chỉ, tính bền bỉ và kỷ luật cao có thể giúp người ta đạt được những gì. Lý Quang Diệu đã làm được những điều mà rất nhiều nhà lãnh đạo thế giới chỉ dám mơ tới. Ông ấy là ví dụ chói sáng của một nhà lãnh đạo phi thường” - học giả Smedinghoff khẳng định.

Theo Sơn Hà

Tuổi Trẻ

Lý Quang Diệu - người chồng lý tưởng

Cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu được đánh giá là một trong những chính trị gia vĩ đại nhất thế giới thế kỷ 20. Trong cuộc sống đời thường, ông còn là một người đàn ông mẫu mực.

Ngày 2-10-2010, bà Kha Ngọc Chi (Kwa Geok Choo), phu nhân của ông Lý Quang Diệu, qua đời ở tuổi 89 trong giấc ngủ. Giới truyền thông Singapore mô tả bà “là một người phụ nữ đơn giản, không muốn tìm kiếm danh vọng hay địa vị, luôn thu mình. Mọi người không biết nhiều về bà”.

Nhưng trong điếu văn khóc vợ, ông Lý Quang Diệu khẳng định: “Nếu không có bà ấy, tôi đã trở thành một người đàn ông khác, sống một cuộc đời khác”.

Trong một lần nói chuyện với các sinh viên đại học Singapore về hôn nhân, ông Lý Quang Diệu tâm sự: “Các bạn có thể học theo quan điểm phương Tây là hãy cưới người phụ nữ mình yêu, hoặc cũng có thể đi theo con đường phương Đông là hãy yêu người phụ nữ mình cưới. Tôi cố kết hợp cả hai nguyên tắc này và nghĩ đó không phải là một lựa chọn tồi”.

Chọn vợ thông minh

Ông Lý Quang Diệu và bà Kha Ngọc Chi kết hôn chính thức vào ngày 30-9-1950. Trước đó, họ cùng là sinh viên Trường Raffles College danh tiếng ở Singapore. Bà Kha sau đó giành được học bổng của hoàng gia Anh và tới học tại ĐH Cambridge lừng danh tại Anh. Bà trở thành người phụ nữ đầu tiên từ châu Á sở hữu tấm bằng luật loại ưu ở ĐH Cambridge.

Khi còn ở Trường Raffles College, ông Lý và bà Kha là những đối thủ của nhau. Kết quả thi môn tiếng Anh và khoa học kinh tế của bà Kha xếp hạng nhất tại trường, trong khi ông Lý đứng thứ hai.

Chính sự thông minh sắc sảo của bà Kha đã khiến ông Lý nghiêng ngả. Từ đối thủ, họ trở thành tình nhân. Họ cưới nhau một cách bí mật tại Anh vào tháng 12-1947 mà không thông báo cho gia đình.

“Khi đó tôi chỉ là một anh chàng trẻ tuổi chưa có nghề nghiệp ổn định. Vì vậy cũng dễ hiểu khi cha mẹ của vợ tôi không xem tôi là một chàng rể lý tưởng. Nhưng vợ tôi có niềm tin tuyệt đối với tôi” - ông Lý kể về thời kỳ đó. Nhiều người đánh giá sự lựa chọn về tình yêu và hôn nhân của ông Lý rất khác biệt so với truyền thống của đàn ông gốc Hoa.

“Chúng tôi chẳng bao giờ tranh cãi nhau về cách nuôi con hay các vấn đề tài chính. Chúng tôi sở hữu chung mọi thứ. Chúng tôi là những người bạn tâm giao của nhau” - ông Lý khẳng định.

Chẳng phải cách đây hàng chục năm mà thậm chí là bây giờ, đàn ông gốc Hoa nói riêng và châu Á nói chung vẫn thích cưới vợ kém hơn về trình độ và trẻ hơn. Nhưng ông Lý lại chọn yêu và cưới một cô gái thông minh hơn và lớn tuổi hơn mình.

Các con của ông Lý Quang Diệu là Hiển Long, Vỹ Linh, Hiển Dương - Nguồn: Economist

Bà Lý Vỹ Linh, con gái ông Lý Quang Diệu, cho biết trong những năm đầu tiên của cuộc hôn nhân, bà Kha mới chính là người nuôi sống gia đình bằng đồng lương luật sư. Chính ông Lý cũng thừa nhận điều này. “Là luật sư, bà ấy kiếm đủ tiền để giải phóng cho tôi khỏi những nỗi lo về tương lai của con cái chúng tôi” - ông Lý cho biết.

Cả đời chung thủy

Dư luận Singapore đánh giá một trong những điểm tuyệt vời của ông Lý Quang Diệu là ông cả đời chung thủy với vợ và không bao giờ ngoại tình. Đây không phải là điều dễ dàng đối với một người đàn ông lên làm thủ tướng đất nước Singapore từ năm 36 tuổi.

Khi vụ xìcăngđan ngoại tình của nam diễn viên Singapore Jack Neo vỡ lở, nghị sĩ Lim Biow Chuan tuyên bố: “Một người đàn ông có sự nghiệp tốt đẹp rất khó tránh chuyện ngoại tình”.

Nếu xét đến thành công sự nghiệp, rất ít người có thể so sánh được với ông Lý. Thời trẻ tuổi ông Lý là người đàn ông cao ráo và khá điển trai. Rất nhiều người đàn ông quyền lực trên thế giới cũng không thoát được ải mỹ nhân và đánh mất sự chung thủy với vợ. Nhưng ông Lý thì không như vậy. Và đây là điều hoàn toàn có thể chứng minh được.

Là một chính trị gia nổi tiếng cứng rắn, ông Lý có rất nhiều kẻ thù. Họ luôn tận dụng mọi cơ hội để bôi nhọ ông Lý. Và không gì phá hủy sự nghiệp của một chính trị gia nhanh và hiệu quả như tin đồn ngoại tình.

Nhưng dù các đối thủ chính trị và những kẻ căm ghét ông Lý có nói xấu ông như thế nào đi chăng nữa thì chưa từng có ai buộc tội ông ngoại tình. Và điều đó cũng đúng với con trai ông là Thủ tướng Lý Hiển Long.

Những gì ông Lý viết về bà Kha cho thấy ông trân trọng người bạn đời của mình đến mức nào. “Bà ấy luôn ở bên cạnh tôi khi tôi cần. Bà ấy đã sống một cuộc đời có ý nghĩa và đầy ấm áp. Chúng tôi đã có những kỷ niệm quý giá trong suốt 63 năm sống cùng nhau” - ông Lý viết trong điếu văn viếng vợ. Ông cũng khẳng định bà đã có ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp của ông.

“Bà ấy có năng lực đánh giá người khác một cách đặc biệt. Thỉnh thoảng bà ấy cảnh báo tôi nên cẩn thận với một số người. Và bà ấy luôn đúng” - ông Lý cho biết.

Tình cảm nồng nàn cho đến phút cuối

Ông Lý Quang Diệu và phu nhân Kha Ngọc Chi hồi năm 2003 - Ảnh: Straits Times

Kể cả khi đã lên chức ông bà, ông Lý và vợ vẫn duy trì được tình cảm thắm thiết, nồng nàn. Trước khi qua đời, bà Kha bị bệnh nặng phải nằm liệt giường, đặc biệt là trong hai năm cuối đời.

Trong những ngày cuối cùng của bà Kha, ông Lý tối nào cũng đọc những bài thơ bà yêu thích cho bà nghe để dễ ngủ. Ông kể cho bà nghe những công việc ông làm trong ngày, và đã bền bỉ chăm sóc vợ cho đến giờ phút cuối cùng.

Không chịu phụ thuộc vào các y tá và người giúp việc, đích thân ông Lý đã chăm sóc vợ hằng ngày. Bà Lý Vỹ Linh kể bà Kha thích được ông Lý chăm sóc hơn là các y tá.

“Cha tôi nhớ rõ các loại thuốc phức tạp mà mẹ tôi phải dùng. Vì mẹ tôi bị lòa mắt trái, cha tôi thường ngồi phía bên trái bà mỗi khi cho bà ăn. Ông giúp bà ăn hết thức ăn ở phía trái đĩa và nhặt sạch những mẩu thức ăn bà đánh rơi trên bàn” - bà Lý Vỹ Linh kể.

Điều đáng nói ông Lý là con cả một gia đình gốc Hoa truyền thống, đến luộc trứng cũng chẳng biết làm như bà Lý Vỹ Linh khẳng định.

“Nhưng khi sức khỏe mẹ tôi suy kiệt, cha tôi đã thay đổi cách sống của mình để chăm sóc bà, hết mình vì bà. Tôi biết cha tôi phải rất nỗ lực để làm tất cả những điều đó và tôi lấy làm ngạc nhiên vì ông ấy đã nỗ lực làm được như vậy” - bà Lý Vỹ Linh cho biết. Mỗi buổi tối ông Lý ngồi bên giường bệnh của vợ, kể cho bà nghe những công việc ông làm trong ngày.

Trên mạng Internet, một số blogger Singapore nhận định trong vai trò một người chồng, ông Lý đặt ra hình mẫu và tiêu chuẩn rất cao đối với mọi người đàn ông khác. Và ông xứng đáng được xem là người chồng mẫu mực để đàn ông Singapore noi theo.

Theo Nguyệt Phương

Tuổi Trẻ

Ông Lý Quang Diệu dạy con như thế nào?

Ông Lý Quang Diệu dạy con như thế nào?

Ông Lý Quang Diệu, bà Kha Ngọc Chi và ba người con - Ảnh: Singaporepolitics

Có thể nói ông Lý Quang Diệu thành công trong cả sự nghiệp và gia đình. Không chỉ có tài năng trị quốc, cách cựu Thủ tướng Singapore tề gia cũng xứng đáng được người đời học hỏi.

Ông Lý Quang Diệu và phu nhân Kha Ngọc Chi sinh hạ được hai con trai và một con gái. Cả ba người con của ông đều rất tài năng và thành đạt.

Người con cả trai Lý Hiển Long, 63 tuổi, đã quá nổi tiếng, từng nắm các chức bộ trưởng thương mại, bộ trưởng tài chính và phó thủ tướng trước khi trở thành thủ tướng Singapore từ năm 2004.

Con trai thứ hai của ông Lý Quang Diệu là Lý Hiển Dương, 58 tuổi, từng giữ chức chủ tịch và tổng giám đốc tập đoàn truyền thông khổng lồ Sing Tel trước khi trở thành chủ tịch Cục Hàng không dân dụng Singapore (CAAS).

Cô con gái Lý Vỹ Linh, 60 tuổi, không đi theo con đường chính trị hay kinh doanh như anh em trai, mà là một nhà khoa học nổi tiếng. Bà hiện là giám đốc Viện Khoa học thần kinh Singapore.

Người cha nghiêm khắc

Bài học đầu tiên mà ông Lý Quang Diệu truyền cho ba người con là sự tự hào về nguồn gốc. Ông Lý Quang Diệu có cái tên nửa Tây nửa Tàu là Henry Lý Quang Diệu, xuất phát từ việc Singapore từng là thuộc địa của Anh.

“Tôi luôn cảm thấy khó chịu khi người ta gọi tôi là Henry Lý” - ông Lý Quang Diệu cho biết. Vì vậy ông không hề đặt tên tiếng Anh cho con cái mình để quyết rũ bỏ cái quá khứ thuộc địa. Và ông Lý Hiển Long và Lý Hiển Dương cũng không hề đặt tên tây cho con cái.

Trong hồi ký của mình, ông Lý Quang Diệu kể cha của ông là một người cực kỳ nghiêm khắc và khó tính, thỉnh thoảng vẫn dùng đòn roi để dạy dỗ con cái.

Khi ông Lý Quang Diệu mới bốn tuổi, ông làm vỡ một chiếc bình quý của cha. Nổi giận đùng đùng, cha ông lôi con ra ngoài, kéo tai cậu bé trước một miệng giếng. “Đó là hồi ức đầu đời của tôi. Không hiểu sao cái tai của tôi khỏe thế, nó không bị đứt ra khiến tôi rơi xuống giếng?” - ông Lý Quang Diệu kể.

Đòn roi của người cha có ảnh hưởng rất lớn đối với Lý Quang Diệu. Từ trải nghiệm của bản thân, ông chủ trương không dùng roi vọt để dạy con. Khi ba người con không nghe lời, ông Lý Quang Diệu chỉ dùng một biện pháp là mắng con. Nhưng ông cũng là một người cha cực kỳ nghiêm khắc.

Trong cuốn hồi ký của mình, bà Ouyang Huan Yan, người giúp việc nhà ông Lý Quang Diệu, cho biết ngay từ khi còn nhỏ, ba người con của ông đều rất nghe lời cha mẹ, ngoan ngoãn, khiêm tốn chứ không kiêu căng như con cái các gia đình quyền quý khác.

Ông Lý Quang Diệu, phu nhân Kha Ngọc Chi và con trai Lý Hiển Long - Ảnh: Tributes

Khi con cái mắc sai lầm hoặc ương bướng, ông Lý Quang Diệu gọi con vào phòng riêng để “kỷ luật”. Không ai dám vào can thiệp, kể cả phu nhân Kha Ngọc Chi. Và cả ba người con đều không dám cãi một lời.

Bà Huan Yan nhớ có lần cậu bé Lý Hiển Long chỉ đạt điểm số đủ để đứng thứ ba trong lớp học. Ông Lý Quang Diệu không hài lòng và gọi cậu con trai vào phòng, xạc cho một trận. Khi đó, cậu  bé sợ phát khiếp.

Ông Lý Quang Diệu cấm người giúp việc đưa con ông đến trường. Khi học lớp ba, cậu bé Lý Hiển Long phải đến trường bằng xe buýt thay vì có người lái xe đưa đến trường.

Ông Lý Quang Diệu yêu cầu cậu con cả phải đứng nhất lớp và sau đó Lý Hiển Long đã đạt được kết quả này. Ông Lý Quang Diệu cũng nghiêm khắc và đòi hỏi cao tương tự với cô con gái Lý Vỹ Linh.

Ông cấm người giúp việc đưa con ông đến trường. Khi học lớp ba, cậu bé Lý Hiển Long phải đến trường bằng xe buýt thay vì có người lái xe đưa đến trường.

Tôn trọng sự độc lập

Gia đình ông Lý Quang Diệu - Ảnh: Singaporepolitics

Bà Huan Yan kể khi làm việc cho gia đình ông Lý Quang Diệu, bà và các người giúp việc khác không bao giờ phải gọi ông và phu nhân Kha Ngọc Chi là “ông chủ, bà chủ”, mà chỉ gọi đơn giản là “ông Lý, bà Lý”.

Kể cả khi ông Lý Quang Diệu lên làm thủ tướng thì điều này vẫn không thay đổi. Các người giúp việc cũng gọi ba người con ông Lý bằng tên riêng chứ không phải là “cậu chủ, cô chủ” như trong các gia đình quyền quý ở Singapore.

Vì vậy, cả ba người con của ông Lý Quang Diệu đều rất thân thiện và gần gũi với người giúp việc trong nhà chứ không tỏ ra kênh kiệu và hống hách.

Vợ chồng ông Lý Quang Diệu yêu cầu cả ba con phải biết sống độc lập, không dựa dẫm vào cha mẹ. Khi cả ba lớn lên, bà Kha Ngọc Chi muốn các con phải tự kiếm tiền để mua đồ dùng cho bản thân chứ không phải xin tiền cha mẹ.

"Điều quan trọng nhất mà cha tôi dạy tôi là không bao giờ lùi bước hay đầu hàng dù tình hình có khó khăn đến mấy" Thủ tướng Lý Hiển Long kể.

Năm ngoái, Thủ tướng Lý Hiển Long kể cha của ông “luôn ở bên cạnh hỗ trợ con cái”. “Kể cả khi tôi đã trưởng thành thì cha tôi vẫn luôn dạy cho tôi những bài học quý giá. Điều quan trọng nhất mà ông dạy tôi là không bao giờ lùi bước hay đầu hàng dù tình hình có khó khăn đến mấy. Ông ấy nói với tôi rằng nếu con tư duy quyết liệt thì sẽ tìm ra cách xử lý mọi vấn đề. Và đừng bao giờ quên nguồn gốc của mình” - ông Lý Hiển Long khẳng định.

Thủ tướng Singapore cho biết cha ông để cho con cái chọn con đường riêng của chính mình chứ không can thiệp. Bà Lý Vỹ Linh cũng kể ông Lý Quang Diệu luôn tôn trọng các quyết định cá nhân của con cái, cho dù có thể ông không đồng  ý với những quyết định đó.

Khi bà Lý Vỹ Linh đã lớn tuổi mà vẫn không chịu lấy chồng, ông Lý Quang Diệu nói với con gái rằng ông hiểu và tôn trọng con và chỉ đưa ra một lời cảnh báo: “Con sẽ cô đơn đấy”.

Với những gì mà ba người con của ông đã làm được, Lý Quang Diệu hoàn toàn có quyền tự hào.

Theo Hiếu Trung

Tuổi Trẻ

Tuyệt tác của cha con Lý Quang Diệu

Tuyệt tác của cha con Lý Quang Diệu

Lợi thế lớn nhất của Singapore là một chính phủ tuyệt vời do những con người kiệt xuất điều hành.

Bài viết nằm trong chuỗi Báo cáo đặc biệt của tạp chí The Economist về tương lai của nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

Hòn đảo của cha con nhà họ Lý

Ắt Singapore là một đất nước khá nghiêm khắc. Nửa thế kỷ nay Đảng Hành động Nhân dân (PAP) vẫn nắm quyền.

Lý Quang Diệu, một luật sư đào tạo tại Cambridge ban đầu bị coi là có phần thiên tả, lập ra hệ thống nghị viện sao cho phe đối lập khó có thể thách thức được quyền lực. Từ năm 1966 đến năm 1981, Đảng PAP giành tất cả mọi ghế.

Họ đã nới lỏng dần kiểm soát và trong cuộc bầu cử gần nhất năm 2006, PAP chỉ dành được 66% phiếu và 82/84 ghế. Truyền thông và đặc biệt là internet cũng tự do hơn một chút.

Người Singapore cho rằng họ đạt tới sự cân đối hoàn hảo giữa sự hiệu quả và trách nhiệm giải trình.

Các chính trị gia liên tục được thử thách qua các kỳ bầu cử và phải luôn tiếp xúc với cử tri, nhưng vì chính phủ biết mình sẽ thắng nên họ có thể nhìn xa hơn.

Cải tổ những nơi như ITE tốn nhiều thời gian. “Sức mạnh của chúng tôi là có thể nhìn về phía trước và tư duy chiến lược,” Thủ tướng nói. “Nếu cứ 5 năm chính phủ lại thay đổi một lần thì mọi sự còn khó hơn.”

Điều này chính xác hơn những gì những người tự do Tây phương muốn thừa nhận. Không nhiều người ở Washington nghĩ xa hơn cuộc bầu cử Tổng thống 2012.

Đôi khi người ta cho rằng chính quyền Mỹ chỉ hoạt động ở tầm chiến lược khoảng 6 tháng vào đầu năm tại vị thứ hai, sau khi đã được Thượng viện phê chuẩn nhân sự và trước khi bầu cử giữa nhiệm kỳ bắt đầu.

Dù có cho rằng cử tri sẵn sàng đánh đổi một chút dân chủ để lẫy hiệu quả, mô hình của Singapore dường như vẫn khó có thể noi theo.

Không chỉ vì nhỏ nên dễ quản lý, mà sự cân đối giữa chế độ toàn trị và trách nhiệm giải trình còn phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của các cá nhân (ngay cả phe đối lập cũng phải thừa nhận tài năng đặc biệt của cha con nhà họ Lý).

Nói rộng ra là thành công của Singapore phần nhiều là do những người đã lãnh đạo nó.

Chất lượng các cơ quan chính phủ Singapore cực tốt. Không giống như khu vực công bình quân chủ nghĩa ở phương Tây, Singapore đi theo mô hình “tinh hoa” và trả cho các quan chức cao cấp tới hơn 2 triệu USD/năm.

Họ phát hiện nhân tài từ lúc còn trẻ, chào mời họ học bổng và tiếp tục đầu tư cho họ. Những ai không đáp ứng được yêu cầu sẽ sớm bị loại.

Ngồi chung bàn với khoảng 30 quan chức giống như ngồi họp với các thành viên hợp danh trẻ tuổi tại Goldman Sachs hay McKinsey hơn là những loại chỉ biết nói “Vâng, thưa Bộ trưởng”.

Người ngồi bên trái bạn đang được biệt phái tới một công ty dầu mỏ; cô gái ngồi bên phải giữa những lúc được cử đến làm ở Bộ Tài chính và Bộ Quốc phòng đã kịp lấy bằng ở Trường Kinh tế London, Cambridge và Stanford.

Các “ngôi sao trẻ” tới Trường Dịch vụ công để được huấn luyện thêm; đích thân Thủ tướng viết case study cho họ.

Nhưng tài năng không chỉ đến từ những người như thế. Tài năng từ khu vực tư được tuyển cả vào giới chính trị và hành chính. Bộ trưởng Giáo dục hiện nay từng là bác sỹ phẫu thuật.

Ngành dân chính phương Tây thường do người giỏi lãnh đạo, nhưng ở Singapore, chế độ nhân tài được áp dụng trên toàn hệ thống.

Ví dụ như giáo viên phải xếp ở top 1/3 đầu lớp (giống như ở Phần Lan, Hàn Quốc, hai nước vốn cũng tự hào về xếp hạng giáo dục).

Hiệu trưởng thường được bổ nhiệm từ đầu ba và được tưởng thưởng nếu làm việc tốt nhưng nhanh chóng bị thay thế nếu trường hoạt động kém. Các bài kiểm tra khá khó.

Vậy nhà nước can thiệp vào nền kinh tế thế nào? Cha con nhà họ Lý học theo chính sách ngành, đầu tiên phát triển công nghiệp rồi tới dịch vụ.

Temasek quản lý danh mục đầu tư trị giá 190 tỷ SGD (150 tỷ USD). Nước này hiện đang cố thúc đẩy các ngành sáng tạo nhưng đến nay vẫn chưa mấy thành công.

Những nỗ lực chỉ huy ấy khiến Singapore dè dặt và ít tinh thần doanh nhân hơn so với Hong Kong vốn tự do tuyệt đối. Chắc chắn nước này có ít tỷ phú giàu có hơn.

Nhưng khó có thể coi Singapore là ví dụ thành công cho cách quản lý kinh tế từ trên xuống dưới như một số người Trung Quốc nghĩ.

Thực tế, yếu tốt cốt lõi đối với thành công của Singapore, khả năng thu hút các tập đoàn đa quốc gia nước ngoài, nhờ tự do kinh doanh nhiều hơn là chính sách ngành.

Hãy tới đây, anh yêu …

Không coi đầu tư nước ngoài là cách để đánh cắp công nghệ hay xây dựng các ngành chiến lược như Trung Quốc, Singapore theo đuổi chính sách mở cửa, xây dựng môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp.

Thông điệp trọng tâm vài thập kỷ qua vẫn vậy: hãy tới đây và bạn sẽ có cơ sở hạ tầng tuyệt vời, lực lượng lao động trình độ cao, giao thương rộng mở, nền pháp trị vững mạnh và thuế thấp.

Nói cách khác, lợi thế cạnh tranh của Singapore là chính quyền tốt mà lại rẻ. Họ đã nỗ lực giữ cho chính quyền thật nhỏ; ngay cả giáo dục cũng chỉ tốn có 3,3% GDP.

Nhưng thực sự thì họ tiết kiệm được từ phúc lợi xã hội và đặc biệt là không “làm hư” tầng lớp trung lưu.

Lý Quang Diệu nghĩ sai lầm của phương Tây là đã lập nên các nhà nước phúc lợi cung cấp đủ mọi thứ: nếu đã được ăn buffet vô tư, người ta sẽ nuốt chửng mọi thứ.

Ngược lại, cách làm của Singapore là để chính phủ cung cấp cho nhân dân phương tiện để họ có thể tự chăm sóc cho mình. Giáo dục tốt cho tất cả mọi người đóng một vai trò quan trọng.

Một trụ cột nữa là Quỹ tiết kiệm trung ương (CPF). 1/5 lương lao động nhập vào một tài khoản của họ ở CPF, chủ lao động đóng góp thêm 15% nữa. Quỹ này cấp vốn cho người Singapore xây dựng nhà ở, trả tiền lương hưu, chăm sóc sức khỏe và học trường cấp 3.

Có một lưới an sinh xã hội nhỏ dành cho những người rất nghèo hoặc bệnh tật. Nhưng dân chúng đều nghĩ mình sẽ chăm sóc cha mẹ, trả tiền cho các dịch vụ công và đồng tri chả cho các dịch vụ y tế.

Lý Quang Diệu đặc biệt không thích phúc lợi toàn diện miễn phí. Một khi đã trợ cấp, rất khó rút lại, ông nói.

Ông tin rằng nếu muốn giúp người ta, tốt hơn nên đưa thẳng tiền mặt cho họ thay vì cung cấp những dịch vụ mà chẳng ai hiểu giá trị của chúng. Ông nghĩ rút cục Trung Quốc sẽ đi theo mô hình của Singapore.

Nhưng có thể cho rằng nơi đáng phải học tập Singapore nhất là phương Tây. Bất chấp những luận bàn về giá trị Á Đông, Singapore là một nơi khá “Tây”.

Mô hình của họ là sự kết hợp giữa các yếu tố tự lập thời Victoria và lý thuyết quản trị kiểu Mỹ. Phương Tây có đi theo cả hai con đường trên mà không mất đi chút tự do nào.

Tại sao không đuổi việc những giáo viên kém phẩm chất và trả cao hơn cho các viên chức dân sự? Và các nhà nước phúc lợi kiểu phương Tây có cần giống những bữa buffet miễn phí đến thế?

Tương tự, chính phủ Singapore có thể nới lỏng kiểm soát mà không mất đi sự hiệu quả của mình. Điều đó có thể giúp họ có thêm cái tinh thần doanh nhân mà họ đang thèm muốn.

Minh Tuấn

Theo Economist