Nguyên nhân đái ra máu

Cập nhật: 24/06/2014 Lượt xem: 25737

Đái ra máu là tình trạng trong nước tiểu có nhiều hồng cầu. Nếu lượng hồng cầu ít phải quan sát trên kính hiển vi mới thấy, hoặc làm xét nghiệm cặn Addis có số lượng hồng cầu dưới 5000 hồng cầu/phút là đái ra máu vi thể. Nếu lượng hồng cầu nhiều, nhìn thấy nước tiểu màu hồng hoặc đỏ hoặc khi xét nghiệm cặn Addis có số lượng hồng cầu trên 5000 hồng cầu/phút là đái ra máu đại thể.

Nguyên nhân đái ra máu

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BV 103

Bài đã được đăng trên báo Sức khỏe và Đời sống (Bộ Y tế)

          Nước tiểu bình thường có 0-1 hồng cầu trong một vi trường, 3 hồng cầu trong 1millilit nước tiểu hoặc dưới 1000 hồng cầu trong 1 phút khi làm cặn Addis. Nếu số lượng hồng cầu tăng trên số liệu trên là có đái ra máu.

          Đái ra máu vi thể nếu:

+ Có 1-2 hồng cầu trong 1 vi trường là (+).          

+ Có 3 hồng cầu trong 1 vi trường là (++).

+ Có 4-5 hồng cầu trong 1 vi trường là (+++).

+ Có 6-7 hồng cầu trong 1 vi trường là (++++).

          Đái ra máu đại thể: hồng cầu dày đặc vi trường hay trên 5000 hồng cầu/phút khi làm xét nghiệm cặn Addis hoặc khi nước tiểu có màu hồng hoặc đỏ. 

           Đái ra máu vi thể có thể do bệnh lý ở cầu thận như viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn, bệnh thận IgA, bệnh lý của đường tiết niệu như viêm thận-bể thận cấp, viêm thận bể thận mạn, viêm bàng quang, viêm niệu đạo, sỏi đường tiết niệu,hoặc bệnh lý toàn thân.

          Đái ra máu đại thể có thể gặp trong viêm cầu thận cấp nặng, bệnh thận IgA, sỏi đường tiết niệu, chấn thương hệ thống thận-tiết niệu.

           Cần xác định vị trí đái ra máu và nguyên nhân đái ra máu mới có biện pháp điều trị thích hợp.

+ Vị trí chảy máu:

- Khi đái ra máu đại thể, muốn xác định chính xác vị trí chảy máu, có thể soi bàng quang trong thời gian bệnh nhân đái ra máu. Khi soi bàng quang có thể thấy máu đang chảy từ thành bàng quang, hoặc thấy dòng nước tiểu có màu đỏ phụt từng đợt từ lỗ niệu quản xuống bàng quang theo nhịp co bóp của niệu quản.

- Khi đái ra máu vi thể cần xem xét hình thể hồng cầu trong nước tiểu: nếu trên 80% số hồng cầu có hình thể biến dạng, méo mó, co nhỏ hoặc có trụ hồng cầu trong nước tiểu là hồng cầu niệu có nguồn gốc từ cầu thận (bệnh cầu thận). Nếu hầu hết hồng cầu niệu có hình thể bình thường, không có trụ hồng cầu thì  nguồn gốc của hồng cầu niệu là từ đường tiết niệu (bệnh lý ở đường tiết niệu).

Hình 1: Hình bên trái hồng cầu có nguồn gốc từ cầu thận, hình thể méo mó, biến dạng, co nhỏ. Hình bên phải hồng cầu có nguồn gốc từ đường tiết niệu, hình thể hồng cầu bình thường.

+ Nguyên nhân đái ra máu có thể do:

- Các bệnh của thận như viêm cầu thân cấp, bệnh cầu thận mạn, bệnh thân IgA, ung thư thân, chấn thương thận.

- Có thể do bệnh của đường tiết niệu như sỏi đài thận, sỏi bể thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang, viêm bàng quang, chấn thương hệ tiết niệu, ung thư bàng quang...

- Có thể do các bệnh toàn thân như bệnh của hệ thống tạo máu, do rối loạn quá trình đông máu.

- Có thể gặp (khoảng 1% số bệnh nhân) đái ra máu không xác định được nguyên nhân.

          Cần phải chẩn đoán phân biệt đái ra máu với đái ra hemoglobin, đái ra myoglobin và đái ra porphyrin.

+ Đái ra hemoglobin:

- Đái ra hemoglobin còn gọi là đái ra huyết cầu tố. Nước tiểu có màu đỏ hoặc xẫm đen, khi để lâu hoặc ly tâm không có lắng cặn hồng cầu. Soi dưới kính hiển vi không có hồng cầu trong nước tiểu.

- Đái ra hemoglobin không phải do bệnh lý tại thân mà do tan máu. Bình thường chỉ có 1-4mg hemoglobin/100ml huyết thanh, trong nước tiểu không có hemoglobin. Khi có tan máu cấp, hemoglobin từ hồng cầu giải phóng vào huyết tương với số lượng lớn, gan không chuyển hoá kịp thành bilirubin, nó được đào thải nguyên dạng ra nước tiểu.

- Nguyên nhân đái ra hemoglobin:

. Sốt rét ác tính đái ra huyết cầu tố (thường do Plasmodium falciparum).

. Nhiễm khuẩn (thường do Clostridium perfringens).

. Nhiễm độc hoá chất (như asenic), nọc độc các loại rắn, một số thuốc (như amphotericin...).

. Truyền nhầm nhóm máu gây tan máu cấp.

. Đái ra hemoglobin kịch phát do lạnh (hiếm gặp): sau nhiễm lạnh, bệnh nhân thấy rét run, đau bụng, đau vùng thắt lưng, đau các bắp cơ và đái ra hemoglobin.

. Đái ra hemoglobin kịch phát ban đêm: gặp ở bệnh nhân có hội chứng Marchiafara-Micheli với biểu hiện từng đợt đái ra hemoglobin kịch phát ban đêm, thường gặp ở tuổi 30-40.

. Đái ra hemoglobin do vận động: vận động bất thường kéo dài như chạy xa ở người chưa quen luyện tập. Sau luyện tập thấy đái ra hemoglobin; hồng cầu trong máu có hình thể bình thường.

. Đái ra hemoglobin do thuốc có thể gặp ở người thiếu men G6PD.

+ Đái ra myoglobin

Giống như đái ra hemoglobin, nước tiểu có màu đỏ hoặc xẫm đen, khi để lâu hoặc ly tâm không có lắng cặn hồng cầu. Soi dưới kính hiển vi không có hồng cầu trong nước tiểu.

Myoglobin là sản phẩm thoái biến của cơ. Đái ra myoglobin xảy ra khi dập nát cơ nhiều (như trong hội chứng vùi lấp). Đái ra myoglobin nguyên phát, bẩm sinh đôi khi có tính chất gia đình. Bệnh nhân thấy đau cơ, có protein niệu ít, có hồng cầu niệu, có myoglobin niệu, có thể có vô niệu.

+ Đái ra porphyrin

- Lúc đầu nước tiểu có màu đỏ xẫm giống như đái ra máu, nhưng sau vài giờ nước tiểu xẫm lại do bị oxy hoá. Khi để lâu hoặc quay ly tâm, không thấy có lắng cặn hồng cầu. Xét nghiệm nước tiểu có porphyrin.

- Porphyrin được tạo ra trong cơ thể chủ yếu do tổng hợp từ glucocol và axít sucinic, một phần được tạo ra do phân huỷ hemoglobin và myoglobin. Porphyrin được đào thải qua nước tiểu dưới dạng porphyrinogen, sau đó bị ôxy hoá để tạo thành porphyrin. Bình thường ở người lớn mỗi ngày đào thải khoảng 75 mg porphyrin, với số lượng này không đủ làm thay đổi màu sắc nước tiểu.

- Chứng porphyrin niệu có những đợt cấp tính trở thành một cấp cứu, vì có thể gây tử vong do liệt hô hấp. Biểu hiện lâm sàng là có cơn đau bụng cấp, liệt vận động, đôi khi có cả liệt hô hấp xuất hiện sau cơn đau bụng vài ba ngày. Chứng porphyrin niệu là biểu hiện của một số bệnh gia truyền về rối loạn chuyển hoá làm sản xuất ra nhiều porphyrin và các chất tiền thân của porphyrin trong cơ thể.

- Cơ chế bệnh là do thiếu một trong các enzym (có khoảng 8 enzym) tham gia vào tổng hợp Hem trong quá trình tạo hồng cầu. Thiếu một trong các enzym này sẽ gây ra một trong 3 chứng porphyrin sau: chứng porphyrin gan, chứng porphyrin do rối loạn tạo hồng cầu, chứng porphyrin phối hợp

PGS. TS. Hà Hoàng Kiệm

 


CHIA SẺ BÀI VIẾT

Bài cùng chủ đề

Bệnh thận - Tiết niệu

    Bệnh tim mạch

      Bệnh cơ-xương-khớp

        Bệnh nội tiết-chuyển hóa

          Bệnh tiêu hóa

            Bệnh phổi - phế quản

              Bệnh Thần kinh - Tâm thần

                Bệnh truyền nhiễm

                  Bệnh nhi khoa

                    Cận lâm sàng

                      Bệnh khác

                        Thuốc

                          Vật lý trị liệu

                            Phục hồi chức năng

                              Tư vấn và Chia sẻ thông tin

                                Sách đã xuất bản của Hà Hoàng Kiệm

                                  Bài báo khoa học

                                    SÁCH CỦA TÔI