Biến chứng bàn chân ở người tiểu đường

Cập nhật: 07/03/2020 Lượt xem: 296

Biến chứng bàn chân ở người tiểu đường, cách phòng tránh và điều trị

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BVQY 103, Học viện Quân y

Biến chứng bàn chân ở người tiểu đường là một trong những biến chứng thường gặp và nguy hiểm, nếu không được phát hiện và có biện pháp chăm sóc kịp thời, phù hợp có thể dẫn tới phải cắt cụt chân để bảo toàn tính mạng cho người bệnh. Các biểu hiện tổn thương bàn chân ở người tiểu đường xuất hiện tăng dần, nặng dần có liên quan với kiểm soát đường huyết kém, thời gian bị bệnh tiểu đường kéo dài, có các yếu tố nguy cơ bệnh mạch máu và thần kinh như hút thuốc lá, tăng mỡ máu… Có ba cơ chế cơ bản gây tổn thương bàn chân ở người tiểu đường: Tổn thương thần kinh ngoại vi, tổn thương mạch máu, nhiễm khuẩn. Các yếu tố thuận lợi: Béo phì, giảm thị lực do đục thủy tinh thể và tổn thương đáy mắt, bị bệnh tiểu đường đã lâu, kiểm soát đường máu kém, bệnh thận do đái tháo đường, xơ vữa các động mạch cấp máu cho chân, đi giày hoặc tất không thích hợp... Những người đã có tiền sử bị loét chân hoặc cắt cụt chân thì nguy cơ bị loét chân cũng sẽ tăng lên. Cần có các biện pháp chăm sóc phục hồi chức năng bàn chân ở người tiểu đường để dự phòng các biến chứng tổn thương bàn chân.

Các biểu hiện tổn thương từ sớm đến muộn như sau:

- Rối loạn cảm giác: cảm giác tê bì, nóng rát bàn chân. Giảm cảm giác nóng, lạnh, đau giảm, cảm giác xúc giác. Những va quệt khi đi lại bệnh nhân không biết do giảm hoặc mất cảm giác dễ gây trợt loét, dễ bị bỏng.

- Da chân khô, bong, nứt nẻ, da lạnh. Xuất hiện vết chai: thường ở những vị trí bàn chân chịu áp lực và dễ bị loét, nhiễm trùng vết loét rất lâu lành.

- Biến dạng bàn chân. Loét bàn chân là biến chứng thường gặp, vị trí loét thông thường là bàn chân và ngón cái. Thường gặp loét hình tròn, đáy sâu được gọi là “loét lỗ đáo”.

- Nhiễm trùng: Nếu có bất kỳ một vết loét nào thì nguy cơ bị nhiễm trùng cũng như nguy cơ ổ nhiễm trùng lan rộng là rất lớn.

- Hoại tử chân: vùng chân sắp hoại tử mất cảm giác, lạnh, màu sắc da tái nhợt sau chuyển sang thâm đen và hoại tử. Nếu vùng hoại tử nhỏ, có thể điều trị thành sẹo được nhưng nếu vùng hoại tử lớn thường phải cắt cụt để bảo vệ tính mạng bệnh nhân.

- Cắt cụt chi: do hoại tử, loét nhiễm khuẩn điều trị không hiệu quả. Có thể phải cắt cụt ngón chân, cắt cụt bàn chân hoặc cắt cụt ngang cổ chân do hoại tử thiểu dưỡng. Tỉ lệ phải cắt cụt chân tới 10% số bệnh nhân tiểu đường.

Phương pháp chăm sóc dự phòng và điều trị:

- Điều quan trọng nhất: Phải kiểm soát được nồng độ đường huyết (duy trì glucose máu lúc đói <7mmol/l) bằng thay đổi lối sống (chế độ ăn, chế độ luyện tập, bỏ thuốc lá, rượu…), kiểm soát các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch như tăng mỡ máu, tăng huyết áp…

- Giai đoạn sớm: chưa có triệu chứng tổn thương bàn chân hoặc triệu chứng còn nhẹ như chỉ rối loạn cảm giác, cần chú ý chăm sóc bàn chân để tránh bị tổn thương:

+ Giữ vệ sinh bàn chân sạch sẽ, giữ khô bàn chân sau khi rửa, kiểm tra bàn chân hàng ngày để phát hiện những bất thường như vết xước, vết bầm tím hoặc vùng da mất cảm giác hơn so với vùng khác,  những vùng da nhợt màu…

+ Không đi chân không mang giày hoặc dép, không mang giày có quai bén nhọn. Khi mua giày nên chọn số lớn hơn bàn chân một chút. Không nên mang giày mới quá lâu. Đổi giày ngay nếu phát hiện có chỗ cộm ở mặt trong. Không đi giày cao gót. Khi có biến dạng bàn chân, nên mang giày chỉnh hình phù hợp với biến dạng ấy.

+ Xoa bóp bàn chân, ngâm chân nước ấm 30 phút mỗi lần, mỗi ngày 1-2 lần. Kiểm tra nhiệt độ của nước cẩn thận và sau khi ngâm cần làm khô chân.

+ Những vùng da khô, bong da có thể bôi một số loại kem giữ ẩm. Không bôi vào kẽ các ngón chân. Mùa đông cần giữ ấm bàn chân bằng đi tất đủ dày, tránh chật quá làm giảm lưu thông máu.

+ Cắt móng chân thường xuyên, mang tất mềm và giày dành cho bệnh nhân tiểu đường.

+ Thường xuyên tập luyện các các hoạt động thể dục nhẹ nhàng như đi bộ, đạp xe, bơi… tránh các hoạt động gây áp lực cao như chạy, nhảy… làm tăng biến chứng bàn chân của bệnh tiểu đường.

+ Cần thận trọng khi đi trên đường khó đi, những nơi kém vệ sinh, khi tiếp xúc với các vật có nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh vì dễ gây tổn thương.

+ Khi có tổn thương nhưng có thể điều trị bảo tồn được: không được cắt gọt vùng chai chân vì dễ gây loét và nhiễm trùng. Tránh gây tì đè, tăng áp lực lên vùng chai của bàn chân, bôi các loại mỡ làm ẩm sẽ làm cho vùng chân bị chai mềm mại không bị nứt nẻ và loét.

+ Khi có vết xước hoặc vết thương: băng vết thương dạng xịt Nacurgo lên vết thương để bảo vệ và kích thích hình thành tế bào mới cho vết thương nhanh lành hoặc rửa sạch bằng nước muối sinh lý, thấm khô bằng gạc vô khuẩn rồi bôi betadin để xát khuẩn.

+ Khi có loét: thay băng vết loét hàng ngày, nếu vết loét bị nhiễm khuẩn cần đắp gạc kháng sinh như berberin, biceptol… Điều trị nhiệt nóng vào vùng loét như dùng đèn hồng ngoại, sóng ngắn… để tăng cường dinh dưỡng làm liền vết loét. Khi các vết loét nhiều và trầm trọng phải tiến hành các phương pháp ngoại khoa như: bắc cầu nối động mạch, tạo hình động mạch bằng can thiệp nội mạch, ghép da nếu loét trên diện rộng, cắt đọan chi nếu ở giai đọan muộn và nặng nề.

+ Khi bị hoại tử: nếu vùng hoại tử nhỏ chăm sóc như với vết loét.

- Cắt cụt: Nếu vùng hoại tử lớn, vết thương bị nhiễm trùng lan rộng và khó liền, khi đó bắt buộc phải cắt cụt. Điều đặc biệt là các động mạch có thể bị tắc hẹp ở các đoạn cẳng chân hoặc cao hơn như ở đùi nên một số trường hợp tuy chỉ có nhiễm trùng bàn chân nhưng lại cần cắt cụt đến trên đầu gối.

 

 


CHIA SẺ BÀI VIẾT

Bài cùng chủ đề
Loading

SÁCH CỦA TÔI