Có gì mới trong hiểu biết về Cơ chế sinh bệnh và dự phòng bệnh gút

Cập nhật: 19/08/2016 Lượt xem: 2990

Cơ chế sinh bệnh và dự phòng bệnh gút

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BV 103

 

Hình 1. Hạt Tophy ở bệnh nhân gút.

Có nhiều nguyên nhân gây nên bệnh gút như bẩm sinh, di truyền (cơ địa), tăng acid uric máu thứ phát… Tuy nhiên, nguyên nhân hay gặp nhất ở bệnh gút là do yếu tố cơ địa (yếu tố di truyền) của mỗi người.

Khái niệm về bệnh gút

Bệnh gút xảy ra là do lắng đọng các tinh thể monosodium urat trong mô, hoặc trong dịch ngoại bào gây ra. Cơ chế sinh bệnh của gút là rối loạn chuyển hóa acid uric gây tăng acid uric máu, hay gặp ở nam nhiều hơn nữ (nam chiếm 90%, nữ chỉ gặp sau tuổi mãn kinh). Tuổi thường gặp là trên 40 tuổi. Bệnh có hai thể là gút cấp tính và gút mạn tính.

Thể cấp tính: Người bệnh có đợt viêm khớp cấp tính kéo dài 1 tuần tới 10 ngày rồi tự khỏi hoặc khỏi do dùng thuốc, giữa các đợt viêm khớp cấp người bệnh hoàn toàn bình thường không có triệu chứng gì. Cơn gút cấp là một cơn đau xảy ra đau đột ngột dữ dội ở khớp, đặc trưng nhất là khớp bàn ngón chân cái, nhưng cũng có thể ở các khớp khác ở chi như ngón chân, ngón tay, khớp gối, khớp vai. Khớp viêm biểu hiện đau, sưng, nóng, đỏ, thường kéo dài vài ngày đến một tuần, viêm giảm dần tự nhiên hoặc dưới tác dụng của thuốc. Cơn gút cấp hay tái phát, tần số tái phát tùy theo người có thể một vài tuần, một vài tháng, nhưng cũng có người 10 năm hoặc hơn mới tái phát kể từ cơn gút đầu tiên.

Thể mạn tính: Người bị bệnh gút, tình trạng viêm khớp kéo dài liên tục lúc tăng lúc giảm nhưng không khi nào hết viêm, trên nền của viêm khớp mạn có những đợt có cơn gút cấp hoặc người bị bệnh gút đã xuất hiện các hạt Tophy. Gút mạn thường xảy ra sau 10 năm kể từ đợt viêm khớp cấp tính đầu tiên. Đôi khi bệnh nhân phát hiện thấy hạt Tophy là triệu chứng đầu tiên mà không có những cơn gút cấp tính trước đó. Các khớp sưng đau kéo dài nhưng thường đau nhẹ hơn đợt cấp.

Cơ chế sinh bệnh của tăng acid uric máu

Quá trình chuyển hóa acid uric có thể tóm tắt như sau: Acid nhân được phân hủy để giải phóng ra purin, purin phân hủy giải phóng ra adenin và guanin, adenin chuyển thành hypoxanthin, hypoxanthin và guanin chuyển thành xanthin, xanthin tạo ta acid uric. Quá trình chuyển hóa này có sự tham gia của nhiều enzym.

Acid uric hình thành trong cơ thể từ ba nguồn: chuyển hóa các chất có nhân purin từ thức ăn, chuyển hóa các chất có nhân purin trong cơ thể (do phá hủy tế bào), tổng hợp purin từ con đường nội sinh. Acid uric hình thành và lưu hành trong máu, tổng lượng acid uric trong cơ thể khoảng 1000mg, hàng ngày có khoảng 650mg được tổng hợp mới và cũng khoảng ấy được đào thải qua thận. Nồng độ acid uric máu luôn được duy trì ở mức 5,0±1,0mg/dl ở nam và 4,0±1,0mg/dl ở nữ (tương đương <420μmol/l ở nam và <360μmol/l ở nữ). Khi nồng độ acid uric trong máu tăng cao (>7mg/dl) và tổng lượng acid uric trong cơ thể tăng thì sẽ hình thành tinh thể monosodium urat và lắng đọng ở các mô đặc biệt trong dịch khớp và gây ra bệnh gút. Tăng acid uric máu có thể do ba nhóm nguyên nhân là tăng tổng hợp, giảm bài xuất qua thận hoặc phối hợp cả hai nguyên nhân trên.

http://benhgut.com.vn/upload/2013/05/21/origin_editor/aci-uric.pnghttp://benhgout.org/wp-content/uploads/2016/04/tinh-the-muoi-urat-hinh-kim.jpg

Hình 2. Cấu trúc của phân tử acid uric và tinh thể acid uric hình que.

- Tăng tổng hợp acid uric có hai nguyên nhân:

+ Tăng acid uric máu tiên phát. Đây là yếu tố cơ địa có tính di truyền có thể do thiếu một phần hay toàn bộ enzym Hypoxanthin-Guanin phospho ribosyl transferase (HGPRT) hoặc tăng hoạt tính enzym Phosphoribosyl-Pyrophosphat synthetase (PRPP synthetase) hoặc không rõ nguyên nhân.

+ Tăng acid uric máu thứ phát do ăn quá nhiều thức ăn có purin (các loại thịt, cá, bia…), tăng phá hủy tế bào, bệnh dự trữ glucogen, bệnh cơ nặng, bệnh bạch cầu.

- Giảm bài tiết acid uric do:

+ Vượt quá khả năng bài tiết của thận.

+ Suy thận.

+ Sử dụng các chất gây ức chế bài tiết urat hoặc tăng hấp thu urat ở ống thận.

Cơ chế sinh bệnh của cơn gút cấp