Điều trị bằng nhiệt

Cập nhật: 25/04/2019 Lượt xem: 374

Điều trị bằng nhiệt

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BV103, Học viện Quân y

1. KHÁI NIỆM

1.1. Nhiệt

Nhiệt (hay nhiệt độ) là đại lượng vật lý đặc trưng cho mức độ nóng lạnh của hệ vật chất.

Đơn vị của nhiệt độ là độ, trong hệ SI là độ Kelvin, theo đó nhiệt độ điểm ba của nước là 273,16 độ F (Nhiệt độ điểm ba là tại đó vật chất tồn tại dưới cả ba dạng rắn, lỏng và khí).

Trong cuộc sống thường sử dụng nhiệt độ Cencius (0C): 0 độ C = 273,16 độ K

Chuyển đổi giữa độ C và độ K:

T (0C) = T (0K) – 273,16

T (0K) = T (0C) + 273,16

1.2. Tác dụng sinh học của nhiệt

1.2.1. Ảnh hưởng của nhiệt lên năng lượng hoạt hóa, vận tốc của các phản ứng hóa học trong cơ thể sống

Để một phản ứng xảy ra phải có hai điều kiện:

- Phải có sự va chạm của các hạt tham gia phản ứng.

- Các hạt tham gia phản ứng phải có năng lượng bằng hoặc lớn hơn năng lượng hoạt hoá.

Khi tăng nhiệt, động năng các phân tử tăng làm tăng xác suất va chạm giữa các phân tử. Các phân tử có động năng vượt năng lượng hoạt hóa cũng tăng lên làm vận tốc phản ứng tăng theo.

1.2.2. Tác động của nhiệt  lên quá trình vận chuyển các chất qua màng tế bào

- Vận chuyển thụ động bao gồm:

+ Khuếch tán: là quá trình vận chuyển thụ động các chất qua màng theo hướng từ nơi có nồng độ chất tan cao tới nơi có nồng độ chất tan thấp do quá trình chuyển động của các phân tử. Tốc độ khuếch tán phụ thuộc vào hệ số khuếch tán, diện tích khuếch tán và gradient nồng độ. Hệ số khuếch tán phụ thuộc vào bản chất của chất khuếch tán và nhiệt độ. Trong tổ chức sống, bản chất của chất, diện tích khuếch tán thường ít thay đổi, nếu nồng độ chất khuếch tán không thay đổi thì tốc độ khuếch tán chỉ còn phụ thuộc vào nhiệt độ. Khi nhiệt độ tăng làm tốc độ khuếch tán tăng.

+ Thẩm thấu: là quá trình vận chuyển của các phân tử nước qua màng bán thấm từ nơi có nồng độ chất tan thấp tới nơi có nồng độ chất tan cao hơn. Hiện tượng thẩm thấu gây ra áp suất thẩm thấu. Áp suất thẩm thấu của các dung dịch lại phụ thuộc vào lượng chất tan và nhiệt độ của dung dịch. Khi nhiệt độ dung dịch tăng lên làm áp suất thẩm thấu của dung dịch giảm, làm giảm quá trình thẩm thấu.

+ Siêu lọc: Các phân tử nước di chuyển từ nơi có áp suất thủy tĩnh cao đến nơi có áp suất thủy tĩnh thấp được gọi là siêu lọc. Khi áp suất thủy tĩnh tăng gây tăng siêu lọc.

- Vận chuyển tích cực:

Hiện tượng vận chuyển các chất có tính chất chọn lọc, ngược lại gradient nồng độ và gradient điện hóa đòi hỏi phải tiêu tốn năng lượng. Quá trình vận chuyển này được gọi là quá trình vận chuyển tích cực. Sự vận chuyển tích cực nhờ các "bơm" và các chất vận chuyển. Năng lượng dùng cho quá trình này được cung cấp bởi thủy phân các phân tử cao năng ATP. Khi tăng nhiệt độ cũng làm tăng tốc độ vận chuyển tích cực. Nhưng quá trình này có giới hạn, khi nhiệt độ vượt qua giới hạn nào đó sẽ làm bất hoạt enzym và làm chậm quá trình vận chuyển.

1.2.3. Tác động của nhiệt đối với quá trình viêm

Tăng nhiệt độ tại chỗ hoặc toàn thân có ý nghĩa bảo vệ: làm giãn mạch, tăng tính thấm của thành mạch, tăng số lượng bạch cầu tới vùng viêm, tăng hoạt tính xuyên mạch và thực bào của bạch cầu... Điều trị nhiệt nóng tại chỗ có tác dụng làm tăng cường cơ chế bảo vệ của cơ thể để chống lại quá trình viêm.

1.2.4. Tác động của nhiệt lên tổ chức liên kết

Tổ chức liên kết được cấu tạo bởi các sợi collagen và chất nền elastin.

- Khi nhiệt độ của tổ chức liên kết tăng lên trên 370C (điều trị bằng nhiệt nóng) thì các mối liên kết ngang giữa các sợi collagen trở nên yếu và dễ đứt dưới tác dụng của lực co giãn từ bên ngoài. Khi nhiệt độ của tổ chức liên kết giảm (điều trị bằng nhiệt lạnh) thì các mối liên kết ngang này trở nên bền chắc.

- Khi nhiệt độ của tổ chức liên kết tăng lên thì độ nhớt của chất nền elastin giảm, làm cho tổ chức liên kết trở nên mềm mại. Khi nhiệt độ của tổ chức liên kết giảm (điều trị bằng nhiệt lạnh) thì độ nhớt của chất nền elastin tăng làm tính đàn hồi của tổ chức liên kết giảm.

Nhờ các tính chất này của collagen mà người ta sử dụng nhiệt nóng trong điều trị để làm mềm sẹo, làm tăng khả năng vận động của khớp trước khi tập vận động phục hồi chức năng cho các khớp bị hạn chế vận động, làm giảm co cứng cơ.

1.2.5. Tác động của nhiệt lên hệ thần kinh

Khi nhiệt độ tác động lên da, các thụ cảm thể nhận cảm nhiệt ở da bị kích thích phát ra các xung động dẫn truyền hướng tâm theo đường dẫn truyền cảm giác lên não gây ra cảm giác nhiệt. Từ não, các xung động thần kinh ly tâm gây ra các phản xạ tại chỗ nhiệt tác động. Các phản xạ tương tự cũng xảy ra ở các vùng được chi phối bởi cùng một đốt đoạn thần kinh với vùng bị nhiệt tác động. Nếu các phản xạ tại chỗ và phản xạ theo vùng chi phối của cùng đốt đoạn thần kinh không đủ để điều hòa nhiệt thì xảy ra phản ứng toàn thân.

Bảng 1.2. Tác động của nhiệt lên tổ chức cơ thể sống.

Tác động

Nhiệt nóng

Nhiệt lạnh

 

Tuần hoàn

Giãn mạch

Tăng dòng máu

Tăng tính thấm

Co mạch

Giảm dòng máu

Giảm tính thấm

Chuyển hoá

Tăng chuyển hóa, tăng tiêu thụ oxy

Giảm chuyển hóa, giảm tiêu thụ oxy

 

Mô liên kết

Giảm độ nhớt

Tăng khả năng đàn hồi

Giảm co cứng

Tăng độ nhớt

Giảm khả năng đàn hồi

Tăng co cứng

Đau

Giảm đau

Lúc đầu đau tăng, về sau giảm đau

Thần kinh - cơ

Giảm co rút cơ

Tăng co rút cơ

 

2. CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ BẰNG NHIỆT

2.1. Nhiệt nóng

2.1.1. Chỉ định điều trị

- Chỉ định tại chỗ:

+ Cần tăng tuần hoàn, dinh dưỡng tại một vùng nào đó của cơ thể.

+ Giảm đau, giảm co rút cơ, giảm phù nề sau chấn thương.

+ Tăng khả năng chống viêm tại chỗ.

+ Làm mềm sẹo.

- Chỉ định toàn thân:

+ Khi cần tăng thải mồ hôi để loại các chất cặn bã của chuyển hóa như sau khi bị sốt, giai đoạn hồi phục sức khỏe sau bị bệnh (tắm hơi khô, hơi nước nóng).

+ Giảm mệt mỏi, tăng sức khỏe sau lao động gắng sức (tắm hơi nước nóng).

+ Trường hợp lạnh cóng, dị ứng do lạnh.

2.1.2. Chống chỉ định

- Các ổ viêm đã hóa mủ.

- Các khối u lành tính và u ác tính.

- Lao xương, lao khớp.

- Các chấn thương mới trong vòng 1 - 3 ngày đầu.

- Các vùng đang chảy máu hoặc đe dọa chảy máu.

- Chống chỉ định điều trị toàn thân với các bệnh nhân suy tim, bệnh gan, bệnh thận nặng...

2.2. Nhiệt lạnh

2.2.1. Tác động lạnh cục bộ

Nếu đắp lạnh diện hẹp, thời gian ngắn thì phản ứng chỉ xảy ra tại chỗ gồm co mạch, giảm tuần hoàn, giảm chuyển hóa. Nếu đắp lạnh rộng hơn và thời gian kéo dài hơn, ngoài phản ứng tại chỗ thì các phản ứng tương tự cũng xảy ra trong vùng được chi phối bởi cùng đốt đoạn thần kinh.

Nếu đắp lạnh diện rộng và kéo dài thì các phản ứng tại chỗ và phản ứng theo đốt đoạn thần kinh không đủ để điều hòa nhiệt, sẽ làm suất hiện các phản ứng toàn thân như run cơ, tăng chuyển hóa, tăng tiêu thụ oxy để tăng tạo nhiệt.

Đắp lạnh tại chỗ thời gian ngắn có tác dụng tăng hưng phấn thần kinh, lạnh kéo dài làm giảm hưng phấn thần kinh. Đắp lạnh tại chỗ gây co mạch, giảm tuần hoàn, giảm tính thấm thành mạch, do đó làm giảm phản ứng viêm cấp tính và giảm phù nề.

Chỉ định đắp lạnh tại chỗ:

- Hạ sốt.

- Chấn thương mới.

2.2.2. Hạ nhiệt toàn thân

Bằng phương pháp gây mê để cắt cơ chế điều hòa thân nhiệt, người ta có thể dùng nước đá hoặc dùng tấm nhiệt lạnh để làm hạ nhiệt độ toàn cơ thể, làm giảm chuyển hóa tế bào, giảm tiêu thụ oxy, tế bào có thể chịu đựng được tình trạng thiếu oxy tốt hơn và lâu hơn.

Chỉ định hạ nhiệt toàn thân:

- Phẫu thuật tim và các phẫu thuật lớn có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể.

- Các trường hợp suy đa tạng.

- Bảo quản các tạng ghép.

3. CÁC HÌNH THỨC ĐIỀU TRỊ BẰNG NHIỆT THƯỜNG DÙNG

3.1. Nhiệt nóng

Để điều trị bằng nhiệt nóng, người ta cần dùng các chất trung gian truyền nhiệt. Chất trung gian truyền nhiệt được lựa chọn cần thỏa mãn điều kiện sau:

- Không gây độc và không gây dị ứng khi tiếp xúc với da (là tiêu chuẩn bắt buộc).

- Giữ nhiệt độ lâu (có nhiệt độ dung lớn).

- Truyền nhiệt từ từ.

- Dễ sử dụng.

3.1.1. Paraffin

Paraffin là chất thỏa mãn tốt nhất với các tiêu chuẩn của một chất trung gian truyền nhiệt nên được sử dụng làm chất trung gian truyền nhiệt rất phổ biến trong các khoa Vật lý trị liệu. Paraffin là một hỗn hợp của các carbuahydro no (CnH2n+2), là sản phẩm của quá trình hóa dầu. Paraffin sử dụng trong y học có màu trắng, đã được lọc sạch tạp chất, không gây tác động hóa học.

- Ưu điểm của paraffin:

+ Paraffin không độc khi đắp lên da và rất hiếm khi gây dị ứng.

+ Paraffin có nhiệt dung cao, là đặc tính quan trọng nhất. Để làm tăng nhiệt độ của 1g paraffin lên 10C cần 0,7 calo, 1g paraffin muốn chuyển từ thể rắn sang thể lỏng ở nhiệt độ nóng chảy cần thêm 39 calo. Khi nguội dần, paraffin cũng giải phóng ra một nhiệt lượng tương tự. Ví dụ: nhiệt độ paraffin đắp lên da là 550 C, khi nguội dần xuống 450C thì 1g paraffin cung cấp cho cơ thể 10 ´ 0,7 = 7 calo. Hơn nữa, khi chuyển từ thể lỏng 52 – 530C (nhiệt độ nóng chảy của paraffin là 52 – 530C) sang thể rắn, 1g paraffin giải phóng ra 39calo nữa, làm tổng số calo mà 1g paraffin truyền cho cơ thể là 46 calo. Nếu so sánh với nước ở nhiệt độ da chịu được mà không gây bỏng là 420C, khi nguội không còn tác dụng là 350C thì 1g nước chỉ cung cấp 7 calo.

+ Paraffin dẫn truyền nhiệt độ chậm: Khi lớp paraffin nóng ở bên ngoài tiếp xúc với da, nó bị nguội đi và đông lại tạo ra một lớp bảo vệ da khỏi bị quá nóng. Nhiệt độ từ lớp trong dẫn truyền chậm qua lớp paraffin đông đặc. Do vậy, đắp paraffin 450C lên da vẫn chịu được mà không gây bỏng. Do đặc tính này nên một lượng nhiệt rất lớn được truyền vào cơ thể rất từ từ.

+ Paraffin sử dụng rất tiện lợi: Miếng paraffin đông đặc rất mềm dẻo, do đó có thể áp sát mọi vùng da lồi lõm và có thể có nhiều phương pháp sử dụng tiện lợi cho từng vùng cơ thể. Khi nguội dần, paraffin co lại và ép vào da nên mặc dù da tại vùng đắp paraffin sung huyết nhưng không bị ứ máu.

- Các kỹ thuật chính thường được dùng trong điều trị:

+ Đắp paraffin miếng.

+ Nhúng paraffin.

+ Quét paraffin.

+ Túi paraffin.

   

Hình 1.37. Nồi đun paraffin cách thủy và khay đựng paraffin lỏng, khi paraffin đông đặc có nhiệt độ bề mặt 450C, tách paraffin ra khỏi khay đắp lên vùng  điều trị (phương pháp đắp paraffin miếng).

3.1.2. Túi silicat

Túi khi còn mới có chứa silicat khô (silicol dioxyt), khi ngâm vào nước thì mỗi phân tử silicol dioxyt có khả năng ngậm 17 phân tử nước, làm cho túi phồng lên và giữ hình thể như vậy cho đến khi túi khô. Để sử dụng, sau khi ngâm nước, túi được cho vào nồi đun đến nhiệt độ 65 - 900C, lấy túi ra để ráo nước. Vùng điều trị được phủ 5-6 lớp khăn rồi đặt túi lên, khi túi nguội, bỏ dần các lớp khăn lót để duy trì nhiệt độ điều trị. Nhiệt độ của túi có thể giữ xấp xỉ nhiệt độ của nước khi đun từ 65 - 900C.

 

Hình 1.38. Túi silicat và nồi đun túi silicat.

3.1.3. Khay nhiệt điện

Khay nhiệt điện là một khay hình chữ nhật hoặc hình vuông được làm bằng nhôm, bên trong là một lớp cách điện và ở giữa là tấm nhiệt điện, khi có điện làm cho tấm nhiệt nóng lên, có thể điều chỉnh và duy trì ở một nhiệt độ nhất định.

3.1.4. Các phương pháp cổ truyền

Người ta thường dùng các biện pháp chườm nóng bằng muối rang nóng, cát rang nóng, túi nước nóng, các loại lá sao nóng như lá ngải cứu, lá cúc tần.

3.2. Nhiệt lạnh

Điều trị nhiệt lạnh có tác dụng làm giảm tưới máu tại chỗ, giảm tính thấm thành mạch, giảm chuyển hóa, giảm tiêu thụ oxy, giảm phản ứng viêm cấp, giảm trương lực cơ. Vì vậy, điều trị nhiệt lạnh có tác dụng làm giảm phù nề, giảm đau trong chấn thương mới. Chống chỉ định khi có biểu hiện thiếu nuôi dưỡng.

3.2.1. Túi nước đá

Dùng một khăn ngâm vào nước lạnh, vắt để khăn ẩm rồi đắp lên vùng da cần điều trị, sau đó dùng bao nhựa hoặc lọ cao su mềm đổ đầy nước đá đặt lên.

    

Hình 1.39. Chườm túi nước đá lên vùng khớp cổ chân và khớp gối sau chấn thương mới.

3.2.2. Ngâm lạnh

Phương pháp này chỉ áp dụng với tay và chân. Bệnh nhân nhúng bộ phận cơ thể vào nước lạnh và hạ nhiệt độ nước xuống dần dần bằng cách cho thêm nước đá vào.

3.2.3. Xoa bóp với nước đá

Xoa bóp vùng da cần điều trị với một cục nước đá hoặc một túi nước đá.

3.3. Điều trị bằng nhiệt nóng - lạnh xen kẽ

Điều trị nóng và lạnh xen kẽ có tác dụng gây co và giãn mạch máu, mạch bạch huyết, làm tăng lưu thông máu ở vùng cơ thể được điều trị và gây phản xạ toàn thân, giảm đau và mềm cơ khi có co rút cơ, tăng chuyển hóa từng vùng cơ thể, giảm bớt sưng nề.

- Chỉ định khi có lưu thông máu chậm, co rút cơ, cứng khớp và sưng nề sau bong gân, chấn thương...

- Chống chỉ định khi có chảy máu, suất huyết, bệnh mạch máu ngoại biên.

- Phương pháp điều trị: cần có hai thùng đựng nước, khăn, nhiệt kế, nước đá, nước nóng. Đổ đầy một thùng nước nóng 37,7 - 43,30C (100 - 1100F). Đổ đầy thùng khác với nước lạnh, dùng nước đá để hạ nhiệt độ xuống từ 18  - 100C (65 - 500F). Bệnh nhân nhúng phần chi cần điều trị vào thùng nước nóng 5 phút, sau đó chuyển sang nhúng vào nước lạnh 2 phút rồi lặp lại nước nóng, nước lạnh xen kẽ, thay đổi 5 lần, tổng số 19 phút. Chú ý: đo nhiệt độ nước sau mỗi lần nhúng, nếu cần thì thêm nước nóng hay nước đá để điều chỉnh nhiệt độ.

Máy điều trị nhiệt nóng lạnh

Máy HC Cryo T-shock của hãng Elettronica Pagani (Italy)

- Điều chỉnh nhiệt độ áp lạnh trị liệu lên tới -180C

- Điều chỉnh nhiệt nóng trị liệu lên đến 410C

- Hệ thống tự động phản hồi nhiệt độ của bệnh nhân

- Kết hợp sử dụng tuần tự hai tính năng cho phép phát huy tác dụng của nhiệt phát sinh thậm chí ngay lập tức cho chấn thương, chấn thương cấp tính mà không gây đau đớn.

  

 

 


CHIA SẺ BÀI VIẾT

Bài cùng chủ đề
Loading

SÁCH CỦA TÔI