Điều trị bằng điện từ trường cao tần

Cập nhật: 02/01/2018 Lượt xem: 2113

ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐIỆN TỪ TRƯỜNG CAO TẦN

1. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Khái niệm

- Theo tần số thì dòng điện được phân loại như sau:

Từ 1 - < 1000Hz là dòng điện tần số thấp.

Từ 1000Hz - < 20.000Hz là dòng điện tần số trung.

Từ > 20.000Hz là dòng điện cao tần.

Vì vậy, dòng điện cao tần là dòng điện xoay chiều có tần số ³ 20.000Hz.

- Xung quanh dây dẫn có dòng điện cao tần chạy qua sẽ suất hiện một từ trường cao tần. Nếu dẫn dòng điện cao tần ra hai điện cực đặt cách nhau một khoảng không khí thì giữa hai điện cực ở khoảng cách dưới một bước sóng sẽ suất hiện một điện trường cao tần, ở khoảng cách ngoài một bước sóng sẽ suất hiện sóng điện từ (sóng điện từ hình thành do sự kết hợp giữa điện trường và từ trường của dòng điện cao tần). Điều trị bằng điện từ trường cao tần là sử dụng từ trường và điện trường của dòng điện cao tần hoặc sóng điện từ cao tần tác động lên cơ thể để điều trị.

Hình 1. Sóng điện từ cao tần.

1.2. Phân loại dòng điện cao tần

- Theo tần số (f):

+ Dòng điện cao tần: f = 20KHz - < 3MHz.

+ Dòng điện siêu cao tần: f = 3 - < 30MHz.

+ Dòng điện cực cao tần: f ³ 30MHz.

- Theo bước sóng (ở):

+ Sóng ngắn: λ = 10 - < 50m.

+ Sóng cực ngắn: λ = 1 - < 10m.

+ Vi sóng (sóng ra đa): λ: < 1m.

1.3. Một số dòng điện cao tần sử dụng trong y học để điều trị

- Dòng d'Arsonval có f: 150KHz; λ: 2.000m.

- Dòng thâu nhiệt có f: 1625KHz; λ: 184,4m.

- Dao mổ điện có f: 250KHz - 2MHz; λ: 100 - 1.000m.

- Sóng ngắn có f: 13,56MHz, λ: 22m; f: 27,12MHz, λ: 11m.

- Sóng cực ngắn có f: > 40,68MH, λ: 7,37m.

- Sóng tối cực ngắn (vi sóng) có f: 2.450MHz; λ: 12,2cm.

2. PHƯƠNG THỨC TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỆN TỪ TRƯỜNG CAO TẦN TRONG ĐIỀU TRỊ

2.1. Phương thức tụ điện

Dòng điện cao tần được dẫn ra hai điện cực kim loại hình đĩa, đặt cách nhau một khoảng không khí giống như một tụ điện. Khi có dòng điện cao tần thì giữa hai điện cực suất hiện sóng điện từ. Đặt tổ chức điều trị vào giữa hai điện cực sẽ làm suất hiện hiệu ứng nhiệt và hiệu ứng sinh học trong mô vùng điều trị, các hiệu ứng này phát huy tác dụng điều trị.

Phương thức tụ điện tạo ra hai dòng điện trong tổ chức:

- Dòng dẫn (In): là dòng di chuyển của các điện tử và các ion, sinh ra nhiệt trong tổ chức theo định luật Joule - Lentz:

Q (calo) = 0,24RI2t

Q: nhiệt lượng phát sinh trong mô (calo).

R: điện trở mô (Ôm).

I: cường độ dòng điện trong mô (ampe).

t: thời gian tác động của sóng điện từ (giờ).

Nhiệt lượng sinh ra từ con đường này rất nhỏ vì cường độ dòng điện suất hiện rất thấp.

- Dòng chuyển dịch (Ic): thực chất là do sự phân cực suất hiện trong tổ chức dưới tác dụng của điện từ trường cao tần. Dòng chuyển dịch không sinh ra nhiệt mà chủ yếu có tác dụng thông qua các phản xạ thần kinh và bị chi phối bởi hằng số điện môi của tổ chức và tần số dao động điện từ. Vì vậy, dòng chuyển dịch phát sinh trong tổ chức không đồng đều.

Tương quan giữa hai dòng In và Ic sinh ra trong tổ chức được coi như một mạch điện với một tụ điện và điện trở mắc song song của một điện thế xoay chiều. Hiệu ứng điện đối với một tổ chức cơ thể phụ thuộc vào hằng số điện môi và điện trở suất của tổ chức đó. Ví dụ: với máy sóng ngắn (λ: 11m) nhiệt sinh ra ở tổ chức mỡ cao hơn cơ và xương (tỷ lệ 13/1), với dòng cảm ứng thì nhiệt sinh ra ngược lại.

Cơ chế sinh nhiệt trong mô dưới tác dụng của sóng điện từ trường:

Cấu trúc hình học của phân tử nước: Phân tử nước bao gồm hai nguyên tử hiđrô và một nguyên tử ôxy. Về mặt hình học thì phân tử nước có góc liên kết là 104,45°. Do các cặp điện tử tự do chiếm nhiều chỗ nên góc này sai lệch đi so với góc lý tưởng của hình tứ diện. Chiều dài của liên kết O-H là 95,84 picômét.

                          

Hình 2. Cấu trúc hình học của phân tử nước.

Do cấu trúc hình học như trên nên phân tử nước có tính lưỡng cực, oxy có độ âm điện cao hơn hiđrô. Việc cấu tạo thành hình ba góc của phân tử nước và việc tích điện từng phần khác nhau của các nguyên tử đã dẫn đến cực tính dương ở các nguyên tử hiđrô và cực tính âm ở nguyên tử ôxy, gây ra sự lưỡng cực. Dựa trên hai cặp điện tử đơn độc của nguyên tử ôxy, lý thuyết VSEPR (Valence Shell Electron Pair Repulsion: là thuyết về sức đẩy giữa các cặp electron hóa trị và dạng hình học của phân tử. Thuyết này còn có tên khác là thuyết Gillespie-Nyholm hay còn gọi là thuyết đẩy), đã giải thích sự sắp xếp thành góc của hai nguyên tử hiđrô, việc tạo thành moment lưỡng cực và vì vậy mà nước có các tính chất đặc biệt. Vì phân tử nước có tích điện từng phần khác nhau nên sóng điện từ trường cao tần làm cho các phân tử nước quay đảo theo sự đảo chiều của sóng, dẫn đến việc nước được đun nóng và làm tăng nhiệt độ của mô được sóng tác động. Hiện tượng này còn được áp dụng để chế tạo lò vi sóng. Như vậy mức độ tăng nhiệt độ của mô tỉ lệ thuận với lượng nước trong mô. Mô càng chứa nhiều nước thì tăng nhiệt càng nhiều dưới tác động của sóng điện từ trường cao tần.

 2.2. Phương thức cảm ứng

Nguyên lý: khi có dòng điện cao tần trong cuộn dây dẫn hình lò xo sẽ làm suất hiện một từ trường cao tần bao quanh cuộn dây. Nếu đặt tổ chức cơ thể trong lòng cuộn dây (ví dụ: chân hoặc tay) thì trong mô sẽ suất hiện dòng điện cảm ứng (gọi là dòng thâu nhiệt hay dòng Foucault). Nhiệt lượng mà dòng thâu nhiệt sinh ra được tính theo công thức: Q = 0,24RI2t.

Nhiệt lượng sinh ra dưới tác dụng của dòng thâu nhiệt tùy thuộc vào độ dẫn điện của tổ chức. Tổ chức giàu nước như cơ, nội tạng sẽ tăng nhiệt cao hơn so với mỡ. Kỹ thuật sử dụng điện cực cáp thường dùng để điều trị ở chi thể: điện cực cáp được quấn vòng quanh chi thể, khoảng cách giữa các vòng điện cực càng gần nhau thì năng lượng tạo ra càng lớn, thường sử dụng khoảng cách này là 15cm.

3. TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA ĐIỆN  TỪ TRƯỜNG CAO TẦN

Tác dụng của điện từ trường cao tần lên cơ thể làm tăng nhiệt độ của tổ chức và gây ra các hiệu ứng sinh học.

3.1 Đối với mạch máu, bạch mạch

Điện từ trường cao tần làm giãn nở các mao mạch và tiểu động mạch tại các vùng điều trị. Đầu tiên là phản xạ co mạch, sau đó nhanh chóng chuyển sang giãn cả động mạch, tĩnh mạch và bạch mạch. Nếu dùng liều thấp và trung bình sẽ làm tăng lưu lượng máu qua vùng điều trị, nhưng ngược lại dùng liều cao, thời gian kéo dài sẽ suất hiện hiện tượng ứ trệ tuần hoàn làm tốc độ dòng máu giảm, kết hợp với nhiệt độ tăng cao có thể gây tắc mạch và bỏng tổ chức. Người ta đã ứng dụng sóng điện từ cao tần trong điều trị những khối ung thư khu trú.

3.2. Đối với các thành phần máu

Điện từ trường cao tần làm giảm bạch cầu trong thời gian ngắn, sau đó chuyển sang tăng bạch cầu, đặc biệt là bạch cầu lympho. Sự tăng bạch cầu kéo dài tới 24 giờ sau khi ngừng điều trị. Dòng điện cao tần còn làm tăng khả năng di chuyển và tăng hoạt tính thực bào của bạch cầu.

Đường máu tăng nhẹ trong thời gian vài giờ sau điều trị bằng điện từ trường cao tần.

3.3. Đối với quá trình viêm

Điện từ trường cao tần làm tăng số lượng bạch cầu và hoạt tính thực bào của bạch cầu; ngoài ra điện từ trường cao tần còn làm giãn mạch, tăng tuần hoàn, tăng phân tán các chất trung gian gây viêm, tăng khả năng xuyên mạch của bạch cầu, tăng chỉ số thực bào của bạch cầu, nên làm tăng khả năng chống viêm. Điện từ trường cao tần làm tăng nhiệt tại chỗ, tăng tuần hoàn, tăng chuyển hoá nên ở giai đoạn phục hồi tổn thương, điện từ trường cao tần có tác dụng làm tăng tái tạo mô.

3.4. Đối với chuyển hóa

Theo định luật Vanthoff, nhiệt độ của mô tăng dẫn tới tăng chuyển hóa (nhiệt độ của mô tăng 10C thì chuyển hóa tăng 13%). Nhưng trong mô sống, các phản ứng sinh hóa có sự tham gia của các enzym chỉ xảy ra mạnh ở nhiệt độ tối ưu, nếu quá nhiệt độ này thì enzym bị bất hoạt hoặc bị phá hủy. Cùng với tăng nhiệt độ mô, điện từ trường gây giãn mạch cục bộ, làm tăng đường máu, tăng lưu thông máu, do đó làm tăng cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho mô, đồng thời làm tăng sự chuyển dịch của các ion sinh ra trong quá trình chuyển hóa. Các yếu tố trên phối hợp với nhau làm tăng cường chuyển hóa của mô khi có điện từ trường tác động.

3.5. Đối với hệ thần kinh

Đối với thần kinh ngoại vi, điện từ trường cao tần có tác dụng ức chế dẫn truyền cảm giác nên có tác dụng giảm đau, hưng phấn thần kinh vận động. Điện từ trường cao tần gây kích thích, tăng hoạt động hệ thần kinh trung ương. Điện từ trường cao tần có thể gây hiện tượng quá mẫn, gây choáng váng nhất là khi điều trị qua não hoặc tiếp xúc kéo dài có thể gây suy nhược thần kinh.

3.6. Đối với điện từ trường cao tần chế độ xung

Mục đích sử dụng chế độ xung là để tăng cường tác dụng sinh học của mô cơ thể mà không gây tăng nhiệt quá mức. Công suất trung bình của máy điện từ trường cao tần quyết định bởi tần số xung và thời gian tồn tại của xung.

Ở chế độ xung, công suất trung bình thấp trong khi công suất đỉnh luôn đạt tối đa nên ứng dụng chế độ xung điều trị cho các tổ chức ở sâu tốt hơn chế độ liên tục. Ngày nay, các máy sóng ngắn của Hà Lan, Nhật Bản có công suất tới hàng nghìn woat, trong khi máy của Nga chỉ đến 70W (vì không có chế độ xung).

4. CÁC HÌNH THỨC ĐIỀU TRỊ

4.1. Dòng dArsonval

Dòng d’Arsonval là một dòng xung xoay chiều có tần số 150 - 200kHz. Máy phát thành từng đợt xung, mỗi đợt xung là một đợt dao động cao tần có biên độ giảm dần, thời gian có xung ngắn (vài phần trăm giây), điện thế cao 4 - 5kV, biên độ lên xuống của xung rất dốc, cường độ dòng điện nhỏ 20 - 40mA, đây là dao động điện tắt dần. Có hai cách điều trị bằng dòng d'Arsonval là điều trị toàn thân và điều trị tại chỗ:

- Điều trị toàn thân: cho bệnh nhân nằm trong cuộn dây cảm ứng có dòng điện chạy qua. Cơ thể được tác động bởi một từ trường dao động rất mạnh (dòng điện xoáy - Foucault) làm tăng tuần hoàn ngoại vi, giảm huyết áp động mạch, giảm kích thích thần kinh, tăng chuyển hóa, tăng sử dụng oxy, tăng thải trừ carbonic. Những tác động trên có tác dụng điều hòa hệ thần kinh thực vật. Dòng d’Arsonval toàn thân thường được dùng trong các bệnh lý suy nhược thần kinh thể cường, tăng huyết áp, rối loạn thần kinh thực vật...

- Điều trị tại chỗ: điện cực của máy được đặt trong một ống thủy tinh, khi điều trị thì điện cực phóng ra các tia lửa điện theo kiểu hồ quang điện, gây tiếng nổ "lép bép" kích thích các thụ cảm thể thần kinh trên da, làm tăng tuần hoàn tại chỗ. Máy "tia lửa - Iskna" của Liên Xô chữa xệ da mặt tuổi già, rụng tóc từng đám, rối loạn vận mạch đầu chi, tăng dinh dưỡng để làm lành các vết loét lâu liền, viêm da mạn tính. Các điện cực thủy tinh có hình lược chải, hình ống, hình nấm... Trong điều trị, phải cho điện cực sát da, không nhấc điện cực khỏi mặt da. Thời gian điều trị trung bình 8 - 10 phút/lần/ngày ì 10 - 15 ngày.

             

Hình 3. Các loại điện cực bằng thủy tinh và máy d’Arsonval.

4.2. Dòng thâu nhiệt

Dòng thâu nhiệt là dòng điện cao tần, tần số từ 2 - 3MHz, điện thế thấp từ 200 - 300V, cường độ 3 - 4mA. Có hai dạng điện cực:

- Điện cực cáp: điện cực là một cáp điện được cuốn quanh vùng điều trị nhiều vòng. Khi có dòng điện chạy trong điện cực, từ trường biến thiên quanh dây dẫn sẽ làm suất hiện dòng thâu nhiệt (dòng điện Foucault) trong mô cơ thể, làm tăng nhiệt độ của mô.

 

Hình 4.  Điện cực cáp.

- Điện cực Foucault: điện cực là một ống kim loại được cuộn nhiều vòng kiểu lò xo đặt trong một vỏ nhựa hình trụ.

              

Hình 5. Điện cực Foucault.

Dòng thâu nhiệt khi đi qua cơ thể không gây kích thích cảm giác, không gây co cơ mà gây ra hiệu ứng nhiệt, làm tăng nhiệt ở cả các mô nông và mô sâu, có thể làm nhiệt độ của mô tăng lên 3 - 50C, hơn hẳn các phương pháp điều trị ngoại nhiệt. Nhiệt độ của mô tăng gây ra tăng tuần hoàn, tăng chuyển hóa, giảm hưng phấn thần kinh, giảm đau, giảm co thắt, chống viêm.

Dòng thâu nhiệt được sử dụng để điều trị các viêm cấp tính, viêm mạn tính, chứng viêm đau thần kinh, viêm khớp cấp tính và mạn tính, các rối loạn vận mạch ngoại vi, các trường hợp viêm do lạnh...

4.3. Sóng ngắn và sóng cực ngắn

Khi cho dòng điện cao tần ra hai điện cực là hai tấm kim loại đặt cách nhau một khoảng không khí, giữa hai điện cực suất hiện sóng điện từ. Tùy theo tần số của dòng điện cao tần mà sóng điện từ là sóng ngắn hay sóng cực ngắn. Bộ phận điều trị được đặt giữa hai điện cực sẽ chịu tác dụng của sóng điện từ. Khi hấp thu năng lượng của sóng điện từ, mô cơ thể sẽ tăng nhiệt độ.

                

Hình 6. Minh họa mật độ sóng điện từ giữa hai điện cực hình đĩa (trái) và điều trị bằng sóng ngắn vào khớp vai trái (phải).

Mức độ tăng nhiệt độ của mô cơ thể dưới tác dụng của sóng điện từ phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

- Công suất dòng điện: công suất càng lớn thì tăng nhiệt càng nhiều.

- Tính chất của mô: mô càng non, càng nhiều nước thì tăng nhiệt càng nhiều.

- Khoảng cách điện cực đến da: vùng mô càng gần điện cực thì tăng nhiệt càng nhiều.

- Tương quan kích thước giữa hai điện cực: khi hai điện cực có kích thước khác nhau, mô phía điện cực nhỏ hơn sẽ tăng nhiệt nhiều hơn.

- Tương quan giữa công suất và kích thước điện cực: cùng một công suất, nếu dùng điện cực nhỏ thì tăng nhiệt nhiều hơn dùng điện cực lớn.

- Góc giữa hai điện cực: nếu hai điện cực đặt tạo với nhau một góc thì mô nằm gần góc giữa hai điện cực sẽ tăng nhiệt nhiều hơn.

- Tiết diện vùng điều trị: nếu vùng điều trị có tiết diện không đều thì vùng có tiết diện nhỏ tăng nhiệt nhiều hơn vùng có tiết diện lớn.

Vì mức tăng nhiệt của mô vùng điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vậy nên để xác định liều điều trị, người ta căn cứ vào cảm giác nhiệt của bệnh nhân và được chia làm bốn mức:

- Mức không ấm: Bệnh nhân không có cảm giác thay đổi về nhiệt độ ở vùng điều trị.

- Mức ấm nhẹ: Bệnh nhân có cảm giác ấm nhẹ tại vùng điều trị.

- Mức ấm rõ: Bệnh nhân có cảm giác ấm rõ rệt ở vùng điều trị.

- Mức nóng: Bệnh nhân có cảm giác nóng ở vùng điều trị.

Trong điều trị thường dùng ở mức không ấm khi điều trị qua các vùng nhiều tổ chức non như tủy sống, não; nên hạn chế dùng ở liều nóng vì dễ gây tổn thương mô.

                  

Hình 7. Các loại điện cực sóng ngắn. Điện cực mềm (trái), điện cực cứng hình đĩa (giữa).

 

Hình 8. Cách đặt điện cực điều trị, phía trên là đặt sai, phía dưới là đặt đúng.

4.4. Vi sóng

 Vi sóng hay sóng tối cực ngắn (: λ <1m).

Trong vật lý trị liệu có máy vi sóng λ: 12,2cm, f = 2.450MHz.

Đặc điểm của vi sóng là bức xạ kiểu "tia" nên phải dùng đầu phát sóng định hướng. Khi bức xạ vi sóng gặp tổ chức, năng lượng của bức xạ sẽ bị hấp thu nhanh, sóng 12,2cm có thể vào sâu tới 5cm.

             

Hình 9. Máy điều trị vi sóng.

Tác dụng của vi sóng là làm tăng nhiệt độ của mô, mức tăng nhiệt giảm dần theo độ sâu mà bức xạ đi vào (ở độ sâu 2cm dưới da, bức xạ chỉ còn 13,5% năng lượng ban đầu). Theo tính toán thì ở độ sâu 2cm, nếu muốn tăng nhiệt độ mô lên từ 2 - 40C thì cần một năng lượng khoảng 8 - 17W, công suất điều trị phải dùng là 80 - 200W. Vi sóng cũng sử dụng chế độ xung giúp cho điều trị ở tổ chức sâu mà không gây bỏng da.

Vi sóng còn có tác dụng giảm đau do trực tiếp tác động lên các thụ thể thần kinh cảm giác, tăng thải trừ các sản phẩm chuyển hóa, đặc biệt là Bradikinin. Ngoài ra, vi sóng có thể kích thích tăng bài tiết endorphin nội sinh làm giảm đau. Chế độ vi sóng xung có tác dụng giảm đau tốt hơn chế độ liên tục.

5. CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐIỆN TỪ TRƯỜNG CAO TẦN

5.1. Chỉ định

- Chống viêm: các viêm nhiễm khuẩn giai đoạn sung huyết chưa hóa mủ hoặc sau khi đã chích tháo mủ như áp xe, mụn nhọt, chắp, lẹo... Các viêm không nhiễm khuẩn như viêm quanh khớp vai, viêm bao hoạt dịch, viêm khớp dạng thấp, viêm màng xương, viêm da, viêm cơ quan nội tạng.

- Các vùng thiểu dưỡng như vết thương, vết loét lâu liền, rối loạn dinh dưỡng bàn chân ở người đái tháo đường…

- Điều trị các rối loạn tuần hoàn cục bộ: co mạch ngoại vi, thiếu máu cục bộ (hội chứng Reynaud, hội chứng Sudex).

- Co thắt cơ vân và cơ trơn, đặc biệt là cơ trơn đường tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục như co thắt túi mật, dạ dày, ruột, niệu quản, bàng quang, niệu đạo, vòi trứng, tử cung.

- Chấn thương: đụng giập phần mềm, phù nề sau chấn thương hoặc phẫu thuật, kích thích quá trình liền vết thương.

5.2. Chống chỉ định

- Chống chỉ định tuyệt đối:

+ Vùng đang chảy máu hoặc đe dọa chảy máu.

+ Các khối u ác tính hoặc lành tính, tăng sản tổ chức.

+ Người mang máy tạo nhịp tim.

+ Vùng điều trị có dị vật là kim loại như mảnh đạn, phương tiện kết xương.

+ Những ổ viêm đã hóa mủ.

+ Các vùng lao chưa ổn định.

+ Phụ nữ có thai.

- Chống chỉ định tương đối:

+ Người mẫn cảm với điện từ trường cao tần.

+ Các bệnh nhân bị suy tim nặng, loạn nhịp tim; các bệnh nhân suy kiệt nặng hoặc bệnh giai đoạn cuối.

+ Tràn dịch các màng như màng ngoài tim, màng phổi, tràn dịch khớp...

+ Bệnh nhân tâm thần hoặc trẻ em (không kiểm soát được).

6. TAI BIẾN, XỬ TRÍ VÀ CÁCH PHÒNG NGỪA

6.1. Tai biến và cách xử trí

- Bỏng: bệnh nhân có thể bị bỏng nếu dùng công suất lớn, chế độ liên tục, khi  điều trị qua vùng có dị vật kim loại (đinh vít, mảnh đạn, nhẫn, hoa tai...), khi có những giọt mồ hôi trên da. Khi xảy ra bỏng phải ngừng điều trị ngay và xử trí theo nguyên tắc điều trị bỏng.

- Tai nạn do chập nổ máy: nếu để dây điện cực bắt chéo lên nhau thì có thể gây chập làm cháy nổ. Nếu điều chỉnh cộng hưởng không đúng có thể làm hỏng máy, công suất tại vùng điều trị không đạt cao nhất.

- Những phản ứng bất thường của cơ thể:

+ Nhức đầu, mệt mỏi, lo âu, ngất... đặc biệt là khi điều trị sóng cao tần qua não.

+ Những thay đổi về máu: giảm ba dòng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu máu ở những người tiếp xúc lâu dài với điện từ trường cao tần nhưng rất hiếm gặp.

+ Hội chứng suy nhược thần kinh: khi tiếp xúc với điện từ trường cao tần lâu dài có thể bị hội chứng suy nhược thần kinh.

6.2. Một số quy định cần thiết để dự phòng tai biến

- Buồng đặt máy điều trị điện từ trường cao tần phải có các lưới kim loại xung quanh để hấp thu sóng cao tần, tốt nhất máy được đặt trong lồng Faraday. Sàn nhà phải được cách điện tốt (trải tấm nhựa dày 3mm hoặc lát gỗ có tấm chống ẩm). Diện tích tối thiểu phải đạt 8m2/máy. Buồng điều trị nên đặt ở nơi xa nhất của khoa, cửa mở ra phía vườn cây, đường lớn.

- Máy phải có dây nối đất, kiểm tra hệ thống dây dẫn điện và kiểm tra máy hàng ngày trước khi điều trị.

- Nhân viên làm việc tại buồng điều trị bằng điện từ trường cao tần nên thay đổi 6 tháng/lần. Mỗi ngày, một nhân viên chỉ nên điều trị 9 lần đối với máy vi sóng, 13 lần với máy sóng ngắn.

- Hàng năm, nhân viên cần được khám sức khỏe, đặc biệt là khám chuyên khoa thần kinh, xét nghiệm công thức máu.

 


CHIA SẺ BÀI VIẾT

Bài cùng chủ đề
Loading

SÁCH CỦA TÔI