Tìm hiều về đạo Hồi (đạo ISLAM)

Cập nhật: 22/02/2016 Lượt xem: 28105

HỒI GIÁO  (ĐẠO ISLAM)

-   Tổng quát.

-   Sự thành lập Hồi giáo,

-   Tiểu sử Giáo chủ Mahomet.

-   Kinh điển.

-   Giáo lý.

-   Sự bành trướng của Hồi giáo.

-   Các Chi phái.

-   Số tín đồ.

- Hồi giáo tại VN.

1.  Tổng quát

Tôn giáo này được gọi là Hồi giáo vì chúng ta gọi theo người Tàu. Theo từ ngữ của nước Á Rập, nơi sản xuất ra tôn giáo này thì  gọi là đạo ISLAM, từ Islam có nghĩa là Phục tùng Thượng Đế.

Do đó, Hồi giáo là một tôn giáo dạy các tín đồ phải phục tùng Thượng Đế một cách hoàn toàn tuyệt đối, không thắc mắc, không bàn cãi.

Đây là một tôn giáo độc Thần  tiêu biểu nhất, vì tính cách cứng rắn của nó, muốn cho mọi người đều phải theo Hồi giáo,  đưa người Hồi giáo đến chỗ lẫn lộn giữa Đạo và Đời.

Theo Giáo lý của Hồi giáo, tất cả mọi người mọi vật, dù ở trên trời hay ở trên mặt đất đều do Thượng Đế tạo nên.

Hồi giáo được chính thức mở ra từ ngày 16-7-622 (sau kỷ nguyên Tây lịch 622 năm) tại thành phố Medina của nước Á-Rập, và ngày này được chọn là ngày mở đầu kỷ nguyên Hồi giáo.

Người sáng lập ra Hồi giáo là Giáo Chủ Mahomet.

Quyển sách căn bản của Hồi giáo là Thánh Kinh Coran  (Qur’an), ghi chép lại tất cả những lời giảng dạy của Giáo chủ Mahomet.

Giáo Chủ Mahomet

2.   Sự thành lập Hồi giáo

Tiểu sử Giáo chủ Mahomet.

Giáo chủ Mahomet sinh khoảng năm 570 tại thành phố Mecca (La Mecque) nước Á-Rập Sê-út (Arabie Séoudite) ở vùng Trung Cận Đông, trong gia đình Hachim thuộc dòng họ Koraichites. Thân phụ là Abdulla và thân mẫu là Amina.

Mồ côi cha lúc được 2 tháng tuổi, và mồ côi mẹ năm lên 6 tuổi, Mahomet ở với ông nội và người bác là Abu Talib. Chẳng bao lâu, ông nội cũng qua đời, chỉ còn có bác, nhưng gia đình của bác cũng không khá giả, nên Mahomet phải đi chăn cừu để kiếm tiền phụ với bác nuôi sống gia đình.

Mahomet được bác cho đi theo đoàn lữ hành đến xứ Syrie, băng qua các sa mạc, tiếp xúc với nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo nhất là Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo . . .

Một sự kiện khác xảy ra trong cuộc đời thơ ấu của Mahomet là cuộc chiến đấu giữa 2 Bộ lạc Á Rập là Quraish và Beni Hawazin tại Hội chợ hằng năm Okaz. Mahomet đứng về phe của bác là Bộ lạc Quraish, có nhiệm vụ đi lượm các mũi tên của kẻ thù đã bắn rơi xuống đất để đem về cho bác và cho Bộ lạc của phe mình.  Cậu  bé  Mahomet  rất  được mọi người trong Bộ lạc yêu mến vì tánh cậu rất thành thật, trung hậu và khiêm tốn.

Nhưng Mahomet sống bằng nội tâm nhiều hơn, không thèm khát giàu sang. Cuộc sống thầm lặng có vẻ như  ẩn dật. Gia đình Abu Talib rất thích hợp để Mahomet suy tư những mối băn khoăn kỳ lạ của chính bản thân mình. Ông nhớ lại năm Ông được 5 tuổi, đang lúc thơ thẩn trong sa mạc, bỗng thấy một con chim lửa từ trên Trời sa xuống, lấy gươm rạch ngực Ông rồi moi tim Ông ra đem rửa sạch.  Lúc đó Ông bị mê man  đi.

Khi lớn lên, Mahomet gặp một tu sĩ Thiên Chúa giáo, Mahomét  mới thuật lại cho vị tu sĩ ấy nghe việc thấy chim lửa từ trên Trời sa xuống giữa sa mạc, thì vị tu sĩ đó nói rằng: “Con chim lửa đó là Thiên Thần Gabriel của Thượng Đế”. Nhân đó, Mahomet  mới hỏi về Đức Chúa Trời, Đức Chúa Jésus, và những điều giảng dạy của Chúa Jésus.

Sau đó, Mahomet lại quen với một người thợ mù tên là Ouaraka, thuật cho nghe về Kinh Thánh Cựu Ước, điều luật Talmud của Đạo Do Thái.

Bác Abu Talib giới thiệu Mahomet đi bảo vệ đàn lạc đà của bà góa phụ giàu có tên là Khadija đi đến Syrie. Công việc hoàn thành tốt đẹp. Sau đó Mahomet và Bà góa phụ Khadija yêu nhau, một mối tình hiếm có vì sự chênh lệnh tuổi tác khá lớn, bà Khadija 40 tuổi còn Mahomet  mới 25 tuổi.

Năm 595, hôn lễ được cử hành. Họ sống rất hạnh phúc, sanh được 2 con trai và 4 con gái, nhưng chỉ nuôi được một đứa con gái tên là Fatima.

Dù sống sung sướng trong sự giàu có của bà vợ Khadija, nhưng thỉnh thoảng Mahomet vẫn thích đi tìm nơi vắng vẻ, xa hẳn người nhà để suy tư và như có ý trông đợi một hiện tượng mầu nhiệm xảy đến.

Trong thời gian đó, tại Mecca, ngôi Đền linh thiêng Kaaba cần phải được xây cất lại. Những vật liệu cần thiết được cung cấp đầy đủ. Trong khi xây cất Đền, một cuộc tranh giành sôi nổi xảy ra giữa 4 người có thế lực nhất, xem ai là người có đủ tư cách cầm viên đá đen linh thiêng đặt vào trong bức tường chánh của ngôi Đền. Khi cuộc tranh cãi đến lúc gay cấn  thì Mahomet bước đến, lúc đó Ông được 35 tuổi, và được mời làm trọng tài để giải quyết việc rắc rối nầy.

Mahomet rất bình tỉnh, và ung dung lấy chiếc áo choàng của Ông trải xuống đất, đặt viên đá đen linh thiêng vào ngay giữa tấm áo rồi mời 4 người đại diện của 4 thế lực ở Bộ lạc Quraish,  mỗi người cầm một góc  áo choàng và cùng nhấc lên để đem viên đá đen đặt vào đúng vị trí của nó. Như vậy, danh dự được chia đồng đều lên 4 vị ấy, và hoà bình được vãn hồi mau chóng. Mọi người đều thán phục sự sáng suốt giải quyết vấn đề của Mahomet.

Năm 610, vào buổi chiều, Mahomet bước ra khỏi hang đá Hira trong sa mạc, nơi mà Ông thường đến để trầm tư mặc tưởng, bỗng Ông thấy một khối lửa to lớn từ trên trời sa xuống ập lên đầu Ông, Ông ngã lăn ra nằm mê man. Khi tỉnh dậy, Ông thấy trời tối thui và bầu trời đầy sao. Ông hồi tưởng lại việc kỳ lạ vừa  mới xảy ra, Ông nhớ rất rõ là có một vị Thiên Thần có cánh bay đến nắm cổ Ông, mạnh đến ngạt thở, đưa ra một lá cờ bằng lửa, và bảo: “Hãy đọc đi”.  Ông hoảng sợ và kêu lên là tôi không biết đọc. (Quả thật Mahomet dốt, không biết chữ). Vị Thiên Thần bảo Ông lần thứ 2, rồi lần thứ 3. Ông hỏi lại: “Đọc như thế nào?” Tức thì vị Thiên Thần liền đọc to lên cho Ông nghe, tiếng lớn như sấm vang, và các chữ trên lá cờ lửa đó tuần tự bay đến đâm thẳng vào mình Ông như những mũi tên lửa.

Đại ý 5 câu trên là cờ lửa như sau: “Hãy nhân danh Đấng Thượng Đế cao cả mà truyền rao rằng: Đức Thượng Đế tối cao đã tạo ra loài người, đã từng dùng cây bút chỉ dạy cho loài người mọi điều bí ẩn mà loài người không hiểu thấu. Hãy truyền rao đi.”

Mahomet hoảng sợ, cố chạy về nhà, thì tiếng nói của vị Thiên Thần vang theo: “Mahomet chính là sứ giả của Thượng Đế. Ta đây là Thiên Thần Gabriel.”

Mahomet đã ngộ Đạo. Đêm Thiên khải ngộ Đạo này được gọi là đêm Kadir, được người Hồi giáo làm lễ lớn và cử hành bằng lễ cầu kinh, nhịn ăn ban ngày trong suốt tháng chay Ramadan.

Mahomet dường như còn nghi ngờ nên chưa vội thực hành việc rao giảng, như Thiên Thần Gabriel đã truyền dạy.

Lại một hôm nữa, Mahomet đi vào sa mạc, bỗng nhiên lên cơn sốt mê man, té xỉu xuống cát, áo choàng che phủ kín đầu. Bỗng Thiên Thần Gabriel lại hiện ra truyền dạy: “Ngươi chớ nên núp dưới áo choàng làm gì! Hãy đứng dậy và truyền  rao đi. Hãy rao truyền quyền phép của Thượng Đế”.

Lần nầy, khi tỉnh dậy, Mahomet hết nghi ngờ, tin chắc mình là Sứ giả của Thượng Đế, và quyết tâm đi truyền rao một  Đạo  mới.

Trước hết, Ông phổ độ người nhà gồm: Vợ là bà Khadija, bạn là Abu Behr (một người giàu có thế lực lớn tại Mecca), em họ là Ali (cũng là con rễ sau nầy), và tên nô lệ Zaid (người được Ông cứu sống). Đó là 5 tín đồ đầu tiên của Mahomet.

Sau gần 4 năm lãnh sứ mạng Tiên tri của Thượng Đế, Mahomet truyền đạo chỉ thâu được khoảng 40 tín đồ. Những tín đồ của Mohamet được người đời gọi chung là  Muslims. 

Phần lớn dân chúng bấy giờ có tín ngưỡng Đa Thần, nên không chịu nghe theo lời của nhà Tiên tri, Sứ giả của Đấng Thượng Đế, mà còn buông lời chế diễu, khinh bỉ, đôi khi còn xua đuổi hay khủng bố nữa. Những người Muslims phải trốn khỏi thành phố Mecca, sang sinh sống ở Abisinya, nơi đây họ được đối xử tử tế.

Năm 619, bà Khadija qua đời, một sự mất mát to lớn trong đời Mahomet, kế đến người Bác là Abu Talib cũng mất luôn sau đó.

Địa vị của nhà Tiên tri Mahomet tại Mecca trở nên nguy ngập. Ông quyết định di cư qua Taif, một thị trấn cách Mecca khoảng 60 cây số về phía Đông, nhưng ở đây, dân chúng cũng không nghe Ông giảng đạo, mà lại xua đuổi Ông. Tuy nhiên Ông cũng cảm hóa được một số ít người tin theo Ông và hứa trung thành với Ông trong một buổi thệ nguyện đầu tiên. Lời Thề như sau: “Chúng tôi sẽ không tôn thờ ai ngoài Thượng Đế, không trộm cắp, không thông dâm, không giết hại trẻ con, không buộc tội oan cho ai và chúng tôi sẽ vâng lịnh Đấng Tiên tri những điều gì đúng”.

Năm sau, một nhóm người ở Medina tới, gồm 73 đàn ông và 22 phụ nữ, đã đến tuyên thệ trước Mahomet bằng Lời Thề trên.

Những người Muslims ở Mecca bị bạc đãi và xua đuổi, nên đã họp thành từng nhóm, rời bỏ Mecca, di cư đến sống ở Medina. Nhà Tiên tri ở lại Mecca với 2 người bạn là Abu Bakar và Ali.

Bấy giờ Bộ lạc Quraish nghĩ cách để diệt trừ Mahomet. Họ bao vây nhà Ông  để  bắt  và  giết  Ông,  nhưng Ông được bí mật báo cho biết trước nên trốn thoát được cùng với Abu Bakar. Cả hai băng mình đi trong đêm tối, đến ẩn trú trong một căn hầm cách Mecca 3 dặm. Ngày hôm sau, Bộ lạc Quraish mở cuộc truy lùng, nhưng Mahomet đã rời căn hầm, đi thẳng đến Medina (Médine).

Ngày đó là ngày 16-7-622 sau Tây lịch, được gọi là ngày Thánh Di (Hégire). Ngày này được dùng làm ngày khởi đầu của Kỷ nguyên Hồi giáo, và sau ngày này, Hồi giáo phát triển mạnh. 

Medina bây giờ trở thành một thành phố của người Hồi giáo (Muslims).

Người Muslims, sau khi ổn định đời sống, họ bắt đầu chung sức xây dựng Giáo đường Hồi giáo đầu tiên tại Medina.

Bô lạc Quraish vẫn nhất quyết tiêu diệt người Muslims, mà đứng đầu là Mahomet. Từ Mecca, họ đưa một đoàn quân khỏe mạnh gồm 1000 người tiến đánh Medina. Dân Hồi giáo tại Medina tập trung lại chỉ có 313 quân, nhưng vẫn hăng hái lên đường chống lại quân Quraish. Hai bên dàn quân tại Badr, cách Medina 30 dặm. Trước khi mở cuộc ác chiến, Mahomet vào căn lều của Ông để cầu nguyện.

Trận chiến bắt đầu. Quân Hồi giáo với một lòng hy sinh dũng cảm chiến đấu, đã đánh tan được đoàn quân của Bộ lạc Quraish đông gấp 3 lần. Nhiều vị tướng lãnh của Quraish bị giết chết tại chiến trường.

Cuộc chiến thắng của đoàn quân Muslims ở Badr đã làm tăng thêm lòng tin tưởng của người Muslims đối với vị lãnh tụ của họ là nhà Tiên tri Mahomet.

Một năm sau, Bộ lạc Quraish lại tiến đánh Medina để phục thù, quyết tiêu diệt Mahomet. Lần nầy, đoàn quân của họ đông hơn trước gấp 3 lần, được 3000 quân.

Mohamet tập trung lực lượng Hồi giáo tại Medina, chỉ được 1000 quân, vẫn quá ít so với quân của Quraish. Tình hình lại có phần nguy kịch hơn vì trong đoàn quân Muslims, có Abdulla Ubay dẫn 300 quân Hồi giáo bỏ trốn. Mahomet chỉ còn lại 700 quân.

Trận chiến diễn ra ác liệt tại núi Uhad, nhưng bất phân thắng bại, hai đạo quân đều bị thiệt hại nặng nề. Quân Quraish  ngã lòng nên liền rút lui.

Hai năm sau, Bộ lạc Quraish kết hợp với nhiều Bộ lạc khác, quyết mở cuộc tấn công tiêu diệt Mahomet và Hồi giáo. Họ tập trung được 24.000 quân, và họ đem đoàn quân đông đảo này quyết đè bẹp thành Medina, tiêu diệt Hồi giáo.

Lần nầy, Mahomet không dám đem quân ra chận đánh  Quraish, mà lại lập kế phòng thủ, lo đắp lại thành lũy cho kiên cố, đào hào sâu, tổ chức thủ thành thật chặt chẽ, đồng thời lo tích lũy lương thực dồi dào, sẵn sàng chống cự lâu dài với quân Quraish.

Quân Quraish bao vây, công phá thành Medina rất dữ dội trong suốt một tháng mà không làm gì được, binh sĩ mệt mỏi chán nản, lại bị một trận bão thổi qua, làm cho việc tiếp vận lương thực của quân Quraish bị ngưng trệ, nên quân Quraish đành  rút quân trở về Mecca.

Thế là 3 lần, quân Quraish tiến đánh Hồi giáo ở thành Medina đều thất bại.

Trong lúc đó, quân Hồi giáo, dưới sự lãnh đạo của Mahomet được bổ sung càng lúc càng đông, tổ chức huấn luyện  thuần  thục, trở thành một lực lượng khá hùng mạnh.

Năm 628 (năm thứ 6 Hồi lịch), Mahomet cảm thấy quân đội Hồi giáo hiện nay đủ sức mạnh chiến thắng Bộ lạc Quraish, nên Mahomet đích thân dẫn đại binh Hồi giáo đi đánh thành Mecca, trung tâm của Bộ lạc Quraish.

Kỵ binh của Mecca kéo ra cản đường. Cuộc chiến đấu kéo dài nhiều tuần lễ, và cuối cùng hai bên đình chiến, ký Thỏa ước Hudaibia. Theo Thỏa ước nầy, hai bên hưu chiến 10 năm, các tín đồ Hồi giáo hằng năm được quyền đến thành phố Mecca hành hương 3 ngày, bù lại, Mahomet phải giao trả lại các tù binh.

Với Thoả ước Hudaibia, Mahomet đã thắng lợi rõ rệt. Các lãnh tụ của Bộ lạc Quraish tại Mecca phải công nhận uy quyền của Mahomet bao trùm cả 2 lãnh vực Đạo và Đời, tức là tôn giáo và chánh trị.

Cũng trong thời gian kể trên, Mahomet khuếch trương thế lực của mình bằng những cuộc hôn nhân chánh trị. Ông kết hôn với con gái của những gia đình thế lực mà Ông muốn thuyết phục họ theo Hồi giáo, trong đó có Cô Maimuna là con gái của Ông Abu Sofyan, một lãnh tụ tại Mecca.

Mặt khác, Mahomet mở rộng thế lực bằng quân sự, đem quân tấn công người Do Thái vì không thuyết phục được họ theo đạo Hồi. Quân Do Thái thiếu đoàn kết nên bị Mahomet đánh bại. Các Ốc đảo Khaibar, Fabak bị quân Hồi giáo chiếm đóng.

Năm 630, lợi dụng tình trạng chia rẽ nội bộ trầm trọng giữa các lãnh tụ của các Bộ lạc tại Mecca, Mahomet kéo đại quân Hồi giáo tiến chiếm thành Mecca dễ dàng. Đây là một thắng lợi rực rỡ và quan trọng của đạo quân Hồi giáo, của Mahomet và của cả Hồi giáo.

Tại đây, Mahomet tẩy uế Đền Kaaba, phá nát các tượng Thần, thiết lập Đền Thờ Hồi giáo, chỉ thờ Đấng Thượng Đế  tối cao duy nhất. Mahomet thiết lập thành phố Mecca là Trung tâm Hồi giáo và cũng là Thánh Địa của Hồi giáo.

Đối với những người đã chống đối Ông trước đây, Mahomet tuyên bố tha tội cho họ, đồng thời răn cấm quân Hồi giáo không được cướp giật của dân hay phá hoại tài sản trong thành.

Lòng nhân đức và sự rộng lượng của Giáo chủ Mahomet làm cho mọi người cảm phục, nhờ đó, dân chúng nhập theo Hồi giáo rất đông. Dần Dần, dân các Bộ lạc chung quanh Mecca đều nhập theo Hồi giáo. Mahomet dạy các tín đồ quay mặt hướng về thành Mecca để cầu kinh hành lễ, để phân biệt với  các tín đồ của Đạo Do Thái. Các ngày lễ của Hồi giáo được thiết lập và duy trì mãi đến ngày nay, không hề thay đổi.

Mahomet đặt ra luật lệ cai trị, tổ chức quân đội, sửa đổi hình luật, thiết lập thuế má, hiệp các bộ lạc rời rạc thành một dân tộc, cùng theo một đạo là Hồi giáo, thương yêu giúp đỡ nhau, không phân biệt bộ lạc hay nòi giống, cùng tôn thờ một Đấng Thượng Đế Allah tối cao duy nhất. Đó là nền tảng của xã hội Hồi giáo.

Trong thời gian truyền bá và phát triển Hồi giáo, thỉnh thoảng Mahomet như lên đồng, mặt mày nhợt nhạt, mồ hôi đầm đìa, lăn lộn dưới đất, miệng thốt ra những lời giảng đạo. Các lời giảng đạo nầy được các đồ đệ ghi chép đầy đủ và tin rằng đây là những lời truyền dạy của Thượng Đế, rồi kết hợp tất cả lại, tạo thành Kinh Thánh CORAN.

Sau nhiều năm, Mahomet xây dựng được một xã hội Hồi giáo, với một Đức tin duy nhất nơi Thượng Đế Allah, một Thánh Kinh Coran, một ngôn ngữ và một dân tộc.

Lần cuối cùng, Mahomet lên giảng đạo trên núi Arafa trước một đám đông tín đồ và các đại biểu của các Bộ lạc. Ngài đã giảng, tóm tắt như sau:

“Hãy lắng nghe lời ta, vì đây có lẽ là lần cuối cùng ta gặp các  đồng đạo nơi đây. Ngày hôm nay, Satan đã hoàn toàn thất vọng không thể ngự trị được trên trái đất này. Nhưng nếu các tín đồ nghe lời nó, dù là về một việc nhỏ nhặt thì cũng là một nguồn vui cho Quỉ. Vậy các tín đồ hãy cẩn thận để giữ trọn niềm tin.

Các tín đồ có quyền đối với vợ và người vợ cũng có quyền đối với các tín đồ. Thượng Đế đã trao họ cho các tín đồ, các tín đồ phải đối xử với tất cả lòng thương yêu. Đối với bọn nô lệ, các tín đồ hãy cho họ ăn những thứ mà các tín đồ ăn và cho họ mặc như các tín đồ.

Hãy nghe kỹ lời ta và học lấy làm lòng. Phải biết rõ là một người Hồi giáo là anh em của một người Hồi giáo khác. Các tín đồ đều đồng đẳng và thuộc một đoàn thể huynh đệ.

Cấm lấy bất cứ thứ gì của người khác nếu không được người nầy vui lòng tặng.“.

Giảng xong, Ngài nói lại 3 lần rằng: “Ta đã làm xong sứ mạng chưa? Ta đã làm tròn Thiên sứ. Vậy Islam hãy là tôn giáo của các ngươi”.

Ngài trở về thành Medina, đem hết sức lực còn lại ra huấn luyện đoàn Thánh quân Hồi giáo cho thật tinh nhuệ để tiếp tục sứ mạng bảo vệ Hồi giáo ở khắp nơi. Ngài cử tướng U Sa Ma lên chức Tổng Chỉ huy đoàn Thánh quân và long trọng trao cho vị tướng này lá cờ lệnh.

Bấy giờ, Mahomet rất yếu vì thọ bệnh, nên trong các buổi lễ tại Giáo đường, Ngài giao cho Ông Abu Bakar thay Ngài cầm đầu các buổi lễ.

Sau đó, bệnh tình của Giáo chủ Mahomet trở nặng và Ngài mất vào ngày 8-6-632 (sau Tây lịch tại đây), hưởng thọ 62 tuổi (năm sanh 570, năm tử  632), lưu lại một sự nghiệp lớn lao và một nền văn minh mang sắc thái tôn giáo, gọi là nền Văn minh Hồi giáo.

Ngày hôm sau, Ông Abu Bakar lên thay Giáo chủ Mahomet, trở thành vị Calife (Khalifa)  thứ nhất chưởng quản Hồi giáo và cai trị đất nước Á Rập Hồi giáo.

Tóm lại, cuộc chiến đấu bằng vũ lực để sinh tồn và sau đó là để  mở rộng biên cương Hồi giáo đã kéo dài suốt hết cuộc đời của Mahomet. Quân đội Hồi giáo đã chiến đấu 64 trận, trong đó có 24 trận lớn do Mahomet đích thân chỉ huy. Sự thành công của Mahomet và của lực lượng Hồi giáo có thể được giải thích bằng một số lý do chính sau đây:

1.  Xã hội Á Rập đã tiến hóa, Đa Thần giáo không còn hợp thời nữa. Các sắc dân du mục bắt đầu  định cư và ranh giới giữa các bộ lạc bắt đầu  bị xóa bỏ để dân chúng hòa hợp nhau tạo thành một quốc gia hùng mạnh chống lại cuộc xâm lăng của các nước khác.

2. Mahomet đã tạo ra Hồi giáo với một Giáo lý đặc biệt làm cho tín đồ tuyệt đối trung thành và phục tùng vị Giáo chủ, tạo ra một quân đội hùng mạnh và hiếu chiến, gọi là Thánh quân,  để mở rộng Hồi giáo bằng vũ lực, gọi là các cuộc Thánh chiến. 

3. Mahomet là người rất khôn ngoan và có tài năng lỗi lạc về nhiều mặt: Quân sự, Chánh trị, Ngoại giao.

Đối với các địch thủ, Ngài biết tùy thời và tùy trường hợp, khi thì dùng vũ lực,  khi  thì  dùng  ngoại  giao, điều đình hoặc nhượng bộ, để cuối cùng lừa được cơ hội mà thắng địch.

Đối với các tín đồ, Ngài tỏ ra là một người sành tâm lý, khéo dùng lời lẽ để thuyết phục, kích thích óc tưởng tượng, và củng cố đức tin.

Sự thành công rực rỡ của Giáo chủ Mahomet là nhờ sự kết hợp chặt chẽ  3 yếu tố: Tôn giáo, Chánh trị và Quân sự.

3. Các Kinh sách của Hồi giáo

Hồi giáo có 3 quyển Kinh sách quan trọng:

- Thánh Kinh Coran.

- Sách Sunna.

- Sách Hadith.

3.1. Thánh Kinh Coran

Coran có nghĩa là đọc đi đọc lại. Đây không phải là tác phẩm của Giáo chủ Mahomet viết ra, mà do các môn đệ của Mahomet thâu góp chép lại tất cả những lời Thánh dạy do Giáo chủ Mahomet cảm nhận nói ra, rồi sắp xếp lại cho có hệ thống, tạo thành Kinh Coran. Sự thu thập biên chép kể trên không được thực hiện trong lúc Mahomet còn sống, vì thuở ấy, các môn đệ chỉ cố gắng nghe và ghi nhớ những lời của Mahomet nói ra.

Mãi đến năm thứ 11 của Kỷ nguyên Hồi giáo, ngay sau khi Mahomet mất, Ông Abu Bahr mới đứng ra khởi làm công việc này. Ông Abu Bakar lập thành một bản Kinh đầu tiên và trao cho Bà Hafca, vợ của Mahomet giữ. Tuy nhiên bộ Kinh này chưa được xem là chính thức vì còn có những môn đồ khác của Mahomet sưu tập riêng.

Các Ông: Obavyb Kab, Ông Abdallahb Masoud, Ông Abu Mousa Migdahb Amr, cũng đã sưu tập và viết ra để tạo thành một bản Kinh riêng.

Sau đó, Ông Othman nhận thấy có nhiều bản Kinh như thế có thể gây chia rẽ trong hàng ngũ Hồi giáo, nên Ông quyết định triệu tập một Hội Đồng để tổng hợp và dung hòa các bộ Kinh trên thành một bộ duy nhất. Công trình này được đa số đồng ý và tiến hành ngay, nhưng phải tới 2 năm sau, Bộ Kinh lớn  mới được hoàn thành và chánh thức đặt tên là KINH  CORAN  (Qur’an).

3.1.1. Về hình thức

Kinh Coran được chia thành 114 chương, gọi là Sourates,  mỗi chương lại chia ra làm nhiều đoạn dài ngắn không đều nhau, có chương dài tới 200 đoạn, có chương chỉ có vài đoạn. Thứ tự thời gian xuất hiện của các chương rất khó phân biệt. Đại khái, các chương ngắn thì xưa hơn các chương dài và thường đặt ở cuối Kinh.

Trong thủ bản đầu tiên, người ta có ghi số chương ở đầu Kinh, nhưng không đánh số từng chương. Sau này, để độc giả dễ phân biệt, người ta mới đặt cho mỗi chương một cái tên và đánh số rõ ràng. Không những thế, người ta đánh số cả các đoạn. Có điều,  mỗi người có kiểu đánh số khác nhau, mặc dù số chương giống hệt nhau.

Mở đầu mỗi chương, người ta đều thấy có ghi câu: “ Bismilla Hir Rahma Nir Rahim”. Nghĩa là: Nhân danh Allah, Đấng Đại Từ  Bi.

Xuyên qua câu này, Mahomet luôn luôn nhận mình chỉ là người được Thượng Đế truyền và chỉ nhắc lại những lời Thượng Đế dạy, chớ không phải tự  mình đặt ra những lời đó.

3.1.2. Về Nội dung

Chương thứ nhất tức là chương mở đầu, chỉ là một Bài Cầu nguyện:

“Lạy Chúa, Chúa của cả muôn loài. Chúa là Đấng mà chúng con hằng kính yêu tột bậc và là vua trong ngày Phán xét.

Chúng con tôn thờ Chúa, và xin Chúa giứp đỡ và dẫn dắt chúng con theo đường chính tràn ngập phước lành. Chúng con không đáng để Chúa giận, chúng con tất cả đều vô tội”.

Những chương sau có thể được chia làm 2 phần:

- Phần 1: Những bài giảng ở thành Mecca.

- Phần 2: Những bài giảng ở thành Medina.

Trong những chương giảng ở Mecca, Giáo chủ thường nói về mục đích cao cả của Hồi giáo. Thời kỳ, số tín đồ còn ít và người ta còn chưa mấy tin tưởng vào giáo lý của Mahomet, Ngài hay nói về ngày Thánh xét và sự phục hồi kiếp khác của người chết. Ngài chỉ trích những người không theo đạo của Ngài, và còn đe dọa là họ sẽ bị trừng phạt, đồng thời Ngài dùng những từ ngữ đẹp đẽ để diễn tả cảnh hạnh phúc giàu sang ở cõi Thiên đàng. Trong thời kỳ nầy, Mahomet đã chịu ảnh hưởng hoàn toàn của Giáo lý Do Thái giáo và Thiên Chúa  giáo.

Ta có thể phân ra làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Mahomet giảng say mê và vô cùng mãnh liệt những bài về Thượng Đế. Lời văn ở đây được gọt dũa rất trôi chảy, đẹp như lời thơ. Thượng Đế mà Mahomet trình bày giống y như Thượng Đế trong Kinh Cựu Ước của Do Thái giáo. Để gây thêm lòng tin tưởng cho người nghe, Mahomet luôn luôn dùng những lời thề dưới đủ mọi hình thức để chứng minh sự xác thực của các lời Thánh dạy.

- Giai đoạn 2: Mahomet bớt say mê hơn và có sự trấn tĩnh làm cho lời giảng hiệu quả hơn. Các bài giảng bớt dài, lời văn cũng bớt gọt dũa và ít dùng các lời thề hơn.

- Giai đoạn 3: Mahomet gần như không giảng nữa, mà lại làm thơ, với nội dung nhắc đi nhắc lại những gì mà Ngài đã nói trong 2 giai đoạn  trước.

Trong những chương giảng ở Medina, Mahomet với tư cách là một Giáo chủ Hồi giáo, đồng thời cũng là lãnh tụ chánh trị, Ngài nói nhiều về vấn đề tổ chức một xã hội Hồi giáo hơn là Giáo lý, đặc biệt về vấn đề chọn lựa và địa vị của một Giáo trưởng, vấn đề nghi lễ. Những gì Mahomet nói, đương nhiên trở thành luật pháp. Luật nầy hầu hết chịu ảnh hưởng của luật Do Thái giáo.

3.2. Sách Sunna

Sunna, theo tiếng Á Rập, có nghĩa là đức tính, là phép xử thế mẫu mực.

Sách Sunna được soạn thảo nói về những đức tính và cách xử thế của Giáo chủ Mahomet. Đó là những mẫu mực mà các tín đồ phải bắt chước noi theo. Do đó, sách Sunna bao gồm những lời giải thích các điều luật của Hồi giáo.

Để thực hiện việc biên soạn sách Suna, người làm sách đã đi dò hỏi tất cả những người họ hàng của Giáo chủ và những người đã sống chung với Giáo chủ từ lúc thiếu thời cho đến lúc chết, tất cả những chi tiết liên quan được ghi lại và phân tích, xếp loại và chú thích.

Vì vậy, ngay từ thế kỷ đầu của Hồi lịch, người ta cho rằng, sách Sunna có thể vượt qua Kinh Coran. Nói các khác, đối với những điều mà Kinh Coran và sách Sunna đều có nói tới nhưng lại khác nhau thì người ta tin sách Sunna hơn là tin theo Kinh Coran.

Kinh Coran chỉ ghi lại những điều mà Giáo chủ nói, còn sách Sunna thì ghi lại những điều mà Giáo chủ làm.

3.3. Sách Hadith

Hadith, theo tiếng Á Rập, có nghĩa là truyền thống, là tập quán cổ truyền.

Sách Hadith, xuất hiện sau Kinh Coran và sách Sunna, sưu tập lại những lời nói, những cử chỉ hành động của Giáo chủ chưa được nói tới trong Kinh Coran và sách Sunna, và của các đồng bạn của Ngài, của các Calife, có mục đích giống như sách Sunna, dùng làm mẫu mực cho tín đồ Hồi giáo.

Đối với các nhà truyền giáo Đạo Hồi, sách Hadith chứa đựng những nguyên tắc căn bản của Giáo luật, những nguyên tắc có tính cách thực tế chứ không lý thuyết như những điều trong Kinh Coran.

Như vậy, sách Hadith có tính cách giống như sách Sunna, nhưng lại hơn Sunna ở chỗ nó bao hàm luôn cả những chi tiết liên quan đến những lời nói, những cử chỉ hành động của các đồng bạn của Giáo chủ và các Calife sau này. Do đó, sách Hadith được dùng làm căn cứ để phân biệt những tín đồ trung thành với Hồi giáo hay phản nghịch.

Việc biên soạn sách Hadith được thực hiện trong một khoảng thời gian khá lâu và ở nhiều nơi khác nhau, nên có nhiều bản khác nhau. Sự khác biệt này đã gây ra nhiều hậu quả tai hại, nên vào cuối thế kỷ thứ 9 Tây lịch, các vị lãnh đạo Hồi giáo quyết định đem 6 bản đầy đủ nhất của sách Hadith ra xem xét và đúc kết lại thành 2 bản chánh gọi là CAHIH.

- Bản chính thứ nhất do Al Bokhali hoàn thành vào năm 870 Tây lịch.

- Bản chánh thứ hai do Ibn Maja, Abu About Al Tirmith và Al Nasai hoàn thành vào năm 875 Tây lịch.

Trong 2 bản chính nầy,  các  nhà  biên  soạn  thu  thập, xếp loại các sự kiện, loại bỏ những sự kiện không chính xác mà các nhà làm sách trước kia đã lầm lẫn.

Tuy đã cố gắng thống nhất các sách, nhưng các nhà lãnh đạo Hồi giáo không sao thống nhất được các cách hiểu kinh sách của họ. Từ đó, Hồi giáo bị phân chia thành nhiều Chi phái chống đối nhau một cách mạnh mẽ.

4.  Giáo Lý của Hồi giáo

Phần chính của Giáo lý Hồi giáo phát xuất từ  Giáo lý của Do Thái giáo và của Thiên Chúa giáo, nhưng Hồi giáo có quan niệm độc thần cứng rắn hơn và khắt khe hơn, nhưng lại đơn giản hơn hai tôn giáo kia.

Đối với tín đồ Hồi giáo, chỉ có một Đức Chúa Allah và Mahomet là Sứ giả do Chúa sai xuống. Tin theo Hồi giáo (Islam) là phải phục tùng Chúa một cách hoàn toàn và tuyệt đối, không thắc mắc, không bàn cãi.

Quan niệm độc Thần cứng rắn kể trên đã đưa tín đồ Hồi giáo đến chỗ lẫn lộn giữa Đạo và Đời. Theo họ, tất cả mọi vật ở trên Trời hay trên mặt đất đều là của Chúa và do Chúa tạo nên. Bàn tay Chúa hiện hữu khắp mọi nơi và Thánh thiện hóa tất cả. Tất cả mọi người đều bình đẳng trước Chúa, không ai có địa vị ưu tiên hơn ai, trừ Mahomet. Một tầng lớp Giáo sĩ trung gian giữa Chúa và tín đồ thì không cần thiết.

Trong xã hội Hồi giáo, người ta không phân biệt những gì là của Đền Thờ và những gì không phải của Đền Thờ. Do đó, tất cả những lãnh tụ của Hồi giáo đều là những lãnh tụ chánh trị.

Giáo luật của Hồi giáo rất đơn giản, nhưng cũng rất khắc nghiệt. Người tín đồ Hồi giáo có 5 bổn phận chính phải theo. 5 bổn phận này được gọi là Ngũ Trụ (5 cây cột), kể ra:

1. Xác tín: Xác nhận sự tin tưởng tuyệt đối của mình vào Đức Chúa Trời bằng cách đọc 5 Câu kinh Kalima, đọc bằng tiếng Á Rập, có ý nghĩa là:

“* 1. Chỉ có Allah duy nhất được hưởng quyền thờ phụng, và Mahomet là sứ giả của Allah.

* 2. Tôi đã hiểu rõ và tôi xin thề: Chỉ có Đấng Allah duy nhất đáng cho tôi kính lạy, ngoài ra không còn ai hết. Ngài đứng một mình trong cõi cao thâm, không dựa vào ai, không thể đem so sánh với ai hết. Tôi đã hiểu rõ và tôi xin thề như thế. Tôi tin chắc rằng chỉ có Mahomet là người được Allah tín nhiệm và là sứ giả duy nhứt của Ngài”.

* 3. Tôi xin thành thật nhận rằng, Allah là Đấng Chí Tôn trong sạch và cao cả. Bao nhiêu sự kính phục, bao nhiêu lời ca ngợi, chỉ có Ngài đáng hưởng mà thôi, ngoài ra không có ai đáng cho tôi cúi lạy.

Allah là Đấng tối thiêng, có quyền phép vô biên. Nếu không có Ngài che chở và chỉ dạy, tự tôi không bao giờ từ bỏ được tội lỗi để làm những điều lành.

* 4. Chỉ có Allah duy nhất được quyền thụ hưởng sự thờ phụng, ngoài ra không có ai được quyền ấy mà cũng không có ai sánh được với Ngài. Chỉ có Ngài trị vì cả dưới đất lẫn trên Trời. Bao nhiêu sự kính phục, bao nhiêu lời ca ngợi, chỉ có Ngài đáng hưởng mà thôi.

Kẻ chết có thể sống lại được, kẻ sống có thể chết được vì Ngài. Bao nhiêu sự tốt lành đều do Ngài ban phát. Tất cả sinh vật đều ở  trong tay Ngài.

* 5. Tôi đã hiểu rõ. Cúi xin Allah che chở cho tôi. Tôi không tôn sùng một hình tượng nào khác ngoài Ngài ra. Xin Allah cứu rỗi tôi, tha thứ các tội lỗi mà tôi đã tạo ra vì ngu muội mà không biết. Chắc chắn Allah soi thấu hết mọi việc. Từ đây, ngoài Islam ra, tôi xin từ bỏ hết các đạo khác.”

2. Cầu nguyện: Mỗi ngày, tín đồ phải làm lễ cầu nguyện 5 lần.

- Lần 1 trước khi mặt trời mọc, gọi là Cobh.

- Lần 2 vào buổi trưa, gọi là Zohr.

- Lần 3 vào buổi chiều, gọi là Acr.

- Lần 4 vào lúc mặt trời lặn, gọi là Maghrib.

- Lần 5 vào lúc ban đêm, gọi là Iha.

Trước khi cầu nguyện,  tín đồ phải thanh tịnh. Nếu đã sờ mó vào những vật không thanh tịnh, dơ dáy thì tín đồ phải đi rửa mặt, rửa tay suốt lên đến khủy tay và đưa cánh tay ướt lên khỏi đầu khi rửa chân. Trong trường hợp ở Sa mạc thì dùng cát thay nước để rửa.

Những thứ mà Hồi giáo coi là không thanh tịnh như: Xác chết, rượu, thịt heo, nam nữ giao hợp, đàn bà sanh nở …

Tính đồ cầu nguyện ở bất cứ nơi nào cũng được, trừ nơi ô uế như: Bãi tha ma, lò sát sinh.

Vật dụng chỉ gồm một tấm thảm hay một mảnh vải có vẽ hình tượng trưng Đền Thờ, được trải trước mặt. Lời cầu nguyện bằng tiếng Á Rập được dịch ra sau đây:

“ Allah là Đấng vô cùng cao cả. (4 lần)

Tôi nhận chân rằng không có vị Chúa nào ngoài Allah.    (2 lần)

Tôi nhận chân rằng Mahomet là người do Ngài sai xuống. (2 lần)

Hãy cầu nguyện, hãy đến để chào Ngài. (2 lần)

Allah là Đấng cao cả nhất. (2 lần)

Không có vị Chúa nào ngoài Allah“.

Khi cầu nguyện, tín đồ phải quay mặt hướng về Thánh địa Mecca, cúi lạy xuống, trán sát xuống đất.

Ngoài các lễ cầu nguyện hằng ngày tại tư  gia, các  tín đồ phải đến dự lễ chung vào trưa ngày thứ 6 mỗi tuần tại Thánh đường Hồi giáo ở địa phương. Tại đây, một vị gọi là Imâm  điều  khiển buổi lễ.

Imâm không phải là Giáo sĩ, vì Hồi giáo không tổ chức hàng Giáo sĩ, mà chỉ là một tín đồ sùng đạo và hiểu  đạo.

Trong Thánh đường, người ta đặt một cái Ngai (Mihrab) hướng về Thánh địa Mecca. Các tín đồ ngồi trước Ngai để làm lễ. Mỗi buổi lễ thường có nhiều nghi thức nhỏ gọi là Raka. Người ta đọc kinh, cúi rạp mình xuống để cầu nguyện và sau đó đọc kinh tiếp.

3.  Ăn chay ban ngày trong tháng Ramadan

Hằng năm, vào tháng 9 Hồi lịch, gọi là tháng Ramadan, tất cả tín đồ Hồi giáo đều bị cấm không được ăn, hút thuốc, chung đụng với vợ, vào lúc ban ngày, kể từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn. Còn ban đêm thì tín đồ được tự do như bình thường.

Đặc biệt những người đau yếu, già cả, đàn bà chửa, vú em, những người làm công việc nặng nhọc, chiến sĩ đang dự Thánh chiến thì được miễn điều luật nầy.

Kết thúc tháng ăn chay, tín đồ tổ chức ăn Tết, gọi là Tết nhỏ. Tục lệ nầy có từ năm thứ 2 của Kỷ nguyên Hồi giáo.

4.  Bố thí

Giới luật này được đặt căn bản trên quan niệm cho rằng những của cải của đời đều ô uế, chỉ dùng tới chúng khi chúng được thanh tịnh hóa bằng cách hiến dâng một phần cho Chúa làm của Bố thí. Của Bố thí từ đó được hiểu như một thứ thuế của Hồi giáo đánh vào lợi tức của mỗi tín đồ, bằng 5% đến 10 % tùy theo loại, có ghi rõ trong Kinh Coran.

Nhưng sở dĩ nó được thu dưới hình thức của Bố thí là vì nó được Chúa đem ban cho những người già cả và nghèo đói.

5. Hành hương Mecca một lần trong đời

Mecca (La Mecque) ở nước Á-Rập Sê-Út (Arabie Séoudite) là Thánh địa của Hồi giáo. Mỗi tín đồ Hồi giáo, không phân biệt Nam hay Nữ, phải có ít nhất một lần trong đời, đi hành hương Thánh địa Mecca, trừ trường hợp bịnh hoạn, nghèo khó, hay đường sá nguy hiểm. Các nô lệ, các phụ nữ không chồng đưa đi thì được miễn.

Đây là bổn phận bắt buộc của tín đồ Hồi giáo đối với Đấng Allah vì đó là lệnh của Ngài.

Thời kỳ hành hương bắt đầu từ tháng 12 Hồi lịch. Trước khi đi hành hương, tín đồ phải giữ mình cho thanh tịnh, phải cạo râu, cắt móng tay, mặc Ihram (một mảnh vải quấn ngang người, không khâu may gì cả), đi dép chớ không được đi giày, cữ gần đàn bà, không được sát sanh, săn bắn, chặt cây nhổ cỏ.

Từ lúc hành hương, các tín đồ phải luôn luôn cầu nguyện: “Lạy Chúa . . .  Con xin theo lệnh Chúa”.

Đến Mecca, họ thường đi quanh Đền Thờ Kaaba 7 lần,  mỗi lần qua phiến đá đen, họ kính cẩn cúi xuống hôn đá.

Sau đó, họ đi ra ngoại ô, đi vòng quanh 2 ngọn đồi As Safa và Al Marwah để tưởng nhớ tới Bà Agar, mẹ của Ismael khi bà đi theo lộ trình nầy để kiếm nước cho con uống. Khi đến suối Zem Zem, nơi bà Aga lấy nước, họ kính cẩn cúi xuống uống nước suối nầy.

Đến ngày thứ 7, sau khi cầu nguyện ở Đền Kaaba, các tín đồ lại đến thung lũng Mina, cách đó 15 cây số, cắm trại trong cánh đồng Arafat cạnh ngọn đồi cùng tên. Hôm sau, tất cả đều lên đồi cầu nguyện và thề trung thành với Chúa và ở đây cho tới hết ngày thứ 9 mới kéo về đồi Muzdalifat, cách Mina vài cây số, nơi thờ Thần Bão tố Kuzat. Tại đây,  mỗi người lấy 7 viên sỏi ném thành 3 đống để kỷ niệm Ngày Abraham chống Quỉ Satan bằng cách ném sỏi nầy.

Cuối cùng, người ta giết dê, lạc đà để làm lễ Tạ ơn và kết thúc hành hương.

Cũng ngày này, tại các nơi khác, các tín đồ không đi hành hương cũng vui mừng ăn Tết lớn  Aid El Kebir.

Trong thời gian đi hành hương, các tín đồ ghé thăm mộ của Giáo chủ Mahomet và mộ của các người thân của Ngài.

Hành hương đến thánh địa Mecca

Đó là 5 bổn phận chính của tín đồ Hồi giáo. Còn thêm một điều nữa rất quan trọng là: THÁNH CHIẾN.

Thánh Chiến: được coi như một nhiệm vụ thiêng liêng của các tín đồ Hồi giáo, vì họ coi những kẻ không chịu theo Hồi giáo là kẻ thù cần phải tiêu diệt.

Thánh Kinh Coran nói rõ: “Chiến tranh mở rộng đất Thánh là cuộc chiến tranh hợp lý và Thánh thiện, vì ngoài việc dùng lời nói dịu dàng, khôn khéo để khuyên người ta theo Hồi giáo mà họ không chịu nghe theo, thì cần phải có những biện pháp cứng rắn bắt buộc, và cuối cùng là phải tàn sát những kẻ chống lại, vì những kẻ ấy đã gán cho Chúa những ý xấu mà chúng không nêu được bằng chứng. Đặc biệt là phải làm khuất phục các nước lân cận để họ cải đạo mà theo Hồi giáo”.

Một lý thuyết gia của Hồi giáo tên là Ibn Khaldoun đã viết rằng: “Đối với Hồi giáo, Thánh chiến chống những kẻ ngoại đạo là một trong những điều bắt buộc thiêng liêng vì Hồi giáo là đạo của mọi người, và mọi người phải theo tôn giáo đó, dù vui lòng hay bị áp lực bắt buộc”.

“Tất cả Giáo lý của các tôn giáo khác đều sai, chính Kinh Coran  đã viết như vậy. Chúng ta không tranh luận với họ, chúng ta chỉ cho họ chọn: Hồi giáo hay sự đầu hàng.”

Chính vì vậy mà Mahomet lúc nào cũng hô hào các tín đồ Hồi giáo phải đoàn kết, xây dựng một quốc gia có lực lượng vũ trang hùng hậu, không những để tự vệ mà còn để đem đến cho các tập thể khác một Đức tin.

Từ đó, đối với các tín đồ Hồi giáo, Thánh Chiến là phương cách tốt nhất để bành trướng Hồi giáo và là một bổn phận không thể thiếu được. Bất cứ lúc nào, các tín đồ Hồi giáo cũng sẵn sàng hưởng ứng lệnh tòng quân, tự đặt mình dưới sự chỉ huy của các Calife để tiêu diệt những kẻ không theo họ hay chống lại họ.

Những Giáo luật trên là bắt buộc.

Không những thế,  xã hội Hồi giáo là một xã hội mà tôn giáo và chính trị hỗn hợp nhau, nên luật Đạo tức là luật Đời. Các lãnh tụ Hồi giáo cũng là lãnh tụ chánh trị, cầm quyền cai trị quốc gia Hồi giáo, nên người dân không thể nào làm trái luật mà không bị trừng phạt.

Điều này giải thích tại sao Hồi giáo không bị mất tín đồ, mà còn bành trướng mạnh.

Giáo lý của Hồi giáo nói: Quan niệm về Vũ trụ,  về Nhân sinh, đối với Thiên Thần và Ma Quỉ, đối với Địa ngục và Thiên đàng, đối với thể xác và linh hồn, đều rập khuôn theo Giáo lý của Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo trong 2 quyển Thánh Kinh Cựu Ước và Tân Ước, nhưng sự gọi tên thì theo cách thức của người Á Rập:

- Thượng Đế thì gọi là Allah.

- Thiên Thần Gabriel  được gọi là Jibril.

- Quỉ Satan được gọi là Ác quỉ Shaitan, vv . . .

Hồi giáo cấm các tín đồ ăn thịt heo vì cho rằng heo là con vật ô uế, ngoài ra cũng không được ăn thịt các thú dữ.

Phụ nữ Hồi giáo không được bình đẳng với Nam phái, họ bị buộc phải che mặt khi đi ra đường. Hồi giáo cho phép đàn ông lấy nhiều vợ và được phép có nô lệ là những tù binh bại trận trong các cuộc Thánh chiến.

Luật lệ của Hồi giáo rất nhiều và rất chi tiết, rất khắc khe, vượt ra khỏi phạm vi tôn giáo, trở thành tiêu chuẩn pháp lý trong đời sống xã hội, chi phối mọi hoạt động của tín đồ.

Ở những nước Hồi giáo, pháp luật Hồi giáo cũng chính là pháp luật của quốc gia.

Nhiều nhà nghiên cứu về Hồi giáo đều nhận xét: Giáo lý và Giáo luật của Hồi giáo tạo ra cho các tín đồ một tạp quán, một tâm lý, một lối sống bảo thủ, phục tùng, cuồng tín và hiếu chiến.

5.  Sự Bành trướng của Hồi giáo sau khi Mahomet chết

5.1.  Vấn đề kế vị Mahomet

Sau khi Mahomet chết, Cộng đồng Hồi giáo có nguy cơ tan rã. Các vị thân cận của Giáo chủ Mahomet hiểu rõ nguy cơ này nên quyết tâm bảo vệ Cộng đồng Hồi giáo, tức là thay thế Mahomet để lãnh đạo tôn giáo và chính trị.

Người đầu tiên kế vị Mahomet là Abu Bahr, một cha vợ của Mahomet, chức vụ lãnh đạo đó được gọi là Calife. Abu Bahr tại vị được 2 năm (632-634) đã duy trì được nền thống nhất của Cộng đồng Hồi giáo.

Kế đó là Omar, một cha vợ khác của Mahomet, ông cầm quyền được 10 năm (634-644). Omar  dốc  toàn  lực  vào các cuộc bành trướng Hồi giáo bằng đoàn Thánh quân chinh phục các nước: Syrie, Ba Tư, Ai Cập, Cyrénaique, Tripolitaine, đảo Chypre, Crète, làm chủ vùng Địa Trung Hải.

Omar bị một tên nô lệ ám sát chết.

Lên thay Omar là Othman, một người con rể của Mahomet, nhưng Othman bất tài, làm nội bộ của Hồi giáo chia rẽ trầm trọng, các phe nhóm được lập ra để chống đối nhau. Năm 656, Othman bị một đám đông vây nhà giết chết.

Ali lên thay, Ali cũng là một con rể của Mahomet. Tình trạng phân tán trong nội bộ vẫn tiếp tục. Đến năm 661, Ali bị ám sát chết.

Người lên thay là Mo’aouiya, sáng lập ra triều đại Omeyyade.

5.2. Triều đại Omeyyade (661-750)

Trung tâm của thế giới Hồi giáo lúc bấy giờ  di chuyển đến Damas, thủ đô của Syrie. Các Calife của triều đại này chế tạo được nhiều khí giới lợi hại nên đã tấn công vào đế  quốc Byzance, chinh phục Bắc Phi, tấn công nước Pháp và Y Pha Nho. Phía Á Châu, quân Hồi giáo xâm lăng A Phú Hãn, đe dọa Trung quốc, tiến về lưu vực sông Ấn Hà ở phía Nam. Đến năm 750, một cuộc nội loạn xảy ra ở Damas lật đổ triều đại Omeyyade, thay thế bằng triều đại Abbasside.

5.3. Triều đại Abbasside (750-1258)

Trung tâm của Đế quốc Hồi giáo bây giờ được di chuyển đến Bagdad, thủ đô của Irak. Đế quốc Hồi giáo bành trướng mạnh sang miền Đông Phi Châu, các xứ ớ Ấn Độ Dương và ở Đông Nam Á.

Văn minh của Hồi giáo trong thời đại này đạt đến đỉnh cao nhất.

Về sau, triều đại  Abbasside  suy  yếu,  các  Calife  của các nước nhỏ tách ra lập một nước riêng, đối nghịch với Calife ở Bagdad. Cuối cùng thì uy quyền của Calife Abbasside ở Bagdad bị thu hẹp trong lãnh thổ Irak, Ba Tư và miền Lưỡng Hà.

5.4.  Người Mông Cổ chiếm Bagdad

Năm 1357, cháu của Thành Cát Tư Hãn (vua Mông Cổ) là Hốt Tất Liệt đem quân Mông Cổ viễn chinh tấn công Irak, chiếm thủ đô Bagdad, chấm dứt triều đại Abbasside.  

Người Âu Châu lúc đó muốn dùng thế lực Mông Cổ để tiêu diệt Hồi giáo, nhưng người Mông Cổ lại bị Hồi hóa nên người Mông Cổ nối tiếp các công trình bành trướng Hồi giáo.

Trong lúc đó, người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman trở nên hùng mạnh, tạo thành một đế quốc rộng lớn ở phía Đông Nam Âu Châu và Tây Á Châu, nên Hồi giáo cũng được phát triển mạnh  trong  đế  quốc  Ottoman  nầy.

Như thế, Cộng đồng Hồi giáo đã chia làm 2: Đế quốc Mông Cổ và Đế quốc Ottoman. Nhờ đó mà Hồi giáo đã truyền bá được một vùng rộng lớn từ Phi Châu sang Trung Đông, Nam Á Châu và Đông Nam Á.

Số tín đồ Hồi giáo lúc đó lên đến 500 triệu người, nhưng phần lớn kém văn minh, còn trong vòng bán khai.

5.5.  Đế quốc Hồi giáo sụp đổ

Các nước Âu Châu, nhờ văn minh cơ khí, sớm trở nên hùng mạnh. Trong vòng chưa đầy một thế kỷ, các nước Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Y Pha Nho, Nga, đánh chiếm hầu hết các lãnh thổ của Đế quốc Hồi giáo làm thuộc địa. Các nước Âu Châu văn minh hùng mạnh chia cắt đế quốc Hồi giáo thành manh mún, để sau cùng chịu sự ảnh hưởng về kinh tế và chính trị giữa 2 khối thế lực hùng mạnh nhất trên thế giới  là Tư  bản và Cộng sản.

Các nước Hồi giáo lần lần tranh đấu giành lại độc lập. Nhưng từ đó, ý thức quốc gia trở nên mạnh mẽ, làm cho các nước Hồi giáo đánh chiếm lẫn nhau, tạo nên những Chi phái Hồi giáo thù nghịch nhau.

Một điều quan trọng là Giáo lý Hồi giáo không còn thích hợp nữa, nhất là Giáo lý này đưa con người đến cảnh giết chóc luôn luôn, trái với bổn tính thiên lương tự nhiên của con người, nên làm cho con người lần lần chán ghét. Sự sụp đổ của thế giới Hồi giáo tất nhiên không thể tránh khỏi được, và sự tư hủy diệt chỉ là vấn đề thời gian.

6.  Các Chi phái của Hồi giáo

Đặc tính đầu tiên và căn bản của Hồi giáo là sự liên hệ mật thiết đến độ lẫn lộn giữa tôn giáo và chánh trị, tức là giữa Đời và Đạo, lý do là vì Thánh Kinh Coran chứa đựng lý thuyết tổ chức xã hội bao gồm cả tôn giáo và chánh trị của Cộng đồng Hồi giáo. Chính vì thế mà ngay sau khi Mahomet chết, sự chia rẽ xảy ra ngay giữa các đồng đạo, tạo thành các nhóm chính trị chống đối nhau, đưa đến sự thành hình nhiều Chi phái Hồi giáo. Có 3 Chi phái lớn kể ra:

6.1.   Chi phái Chính Thống hay Sunna

Chi phái này lấy sách Sunna làm căn bản bên cạnh Thánh Kinh Coran và sách Hadith, nhất là những quyết định của 4 vị Calife đầu tiên liên tiếp kế vị nhau sau khi Mahomet qua đời.

6.2.  Chi phái Kharejite

Chi phái nầy chủ trương rằng: Bất cứ  tín đồ Hồi giáo nào cũng đều có thể trở thành một vị Calife được và tất nhiên Calife  nào  không  làm  tròn  sứ  mạng  của  mình  thì sẽ bị truất phế. Do đó mà Ali bị ám sát chết vào năm 661. Chi phái Kharejite sau đó còn đi xa hơn nữa, họ không công nhận ngôi Calife như  đương thời quan niệm.

Tiếp theo, từ thế kỷ thứ 10, họ không công nhận bất cứ ai ở địa vị Imâm. Mỗi người trong Chi phái nầy tự tôn thờ Allah riêng cho mình, không cần tới những người trung gian.

6.3.  Chi phái Shi’ite

Chi phái nầy chủ trương đích truyền, chỉ công nhận một mình Ông Ali  trong trong số 4 vị Calife đầu tiên, còn 3 vị kia  là thoán nghịch, và đồng thời họ cho rằng chỉ có những người nào dòng dõi của Ali  mới có thể làm Imâm được.

Về tổ chức, Chi phái nầy do 12 vị Imâm lần lượt cầm đầu, đều là dòng dõi của Ali.

Vị Imâm thứ 12 vào núi ẩn mình từ hồi trẻ (năm 878) và sẽ tái xuất hiện vào lúc đổi đời nhằm tái lập một xã hội công bằng. Một vị gọi là Mahdi được chọn ra thay thế. Nhưng các nhà giải thích luật pháp của Chi phái Shi’ite từ thời nầy vẫn nhân danh vị  Imâm  ẩn  cư.

Đối với Chi phái Shi’ite, hai Chi phái Sunna và Kharejite bị coi là kẻ thù truyền kiếp vì họ có trách nhiệm về cái chết của Ali.

Chi phái Shi’ite về sau lại phân ra làm nhiều Chi phái nhỏ nữa như: Notawal, Zaid, Ismai, Tân Ismail.

Các tín đồ của Chi phái Shi’ite rất cuồng tín, một số đã lập ra những tổ chức khủng bố hoạt động rất mạnh trong thời Trung cổ ở Iran (Ba Tư) và Syrie dưới danh hiệu là: Hachichin,  hay Assassin.

Hiện nay, Hồi giáo có rất nhiều Chi phái, vì Chi phái lại nảy sinh Chi phái, và các Chi phái thường chống đối nhau.

 7. Số tín đồ Hồi giáo trên thế giới

Hiện nay, số tín đồ Hồi giáo của các nước trên thế giới  được khoảng 900 triệu, đứng hàng thứ nhì, sau Công giáo.

Theo thống kê của Hội Đồng các Giáo Hội Thế giới, đến cuối năm 1979, số lượng tín đồ Hồi giáo của một số quốc gia kể ra sau đây :

- Pakistan        145 triệu          - Arabie            8 triệu

- Indonésia      140.                  - Jordanie         3.

- Malaysia        6.                     - Syrie              5.

- Trung quốc    15.                   - Yemen           7.

- Maroc            18.                    - Afganistan    18.

- Algérie           16.                    - Thổ Nhĩ Kỳ  40.

- Tunisie           4.                      - Nam Tư         3.

- Tagania           3.                      - Liên Xô cũ    40.

- vv . . . . . . . . . . . . .

Nếu tính số lượng tín đồ Hồi giáo theo Châu Lục thì:

- Châu Á       600 triệu

- Châu Phi     250.

- Châu Âu   30.

Kết quả hình ảnh cho hồi giáo

8.  Hồi giáo tại Việt Nam

Đại đa số người VN không theo Hồi giáo, chỉ có một số  rất  ít, không đáng kể là theo Hồi giáo.

Những người Chàm ở VN hầu hết đều theo Hồi giáo. Tổng số người Chàm ở VN khoảng 700.000 người, tập trung vào một số khu vực như: Phan Rang, Biên Hòa, Sàigòn, Tây Ninh và Châu Đốc. Số người Chàm ở Phan Rang theo Hồi giáo không chính thống, vì có pha trộn tín ngưỡng đạo Bà-La-Môn. Số người Chàm ở Sàigòn, Biên Hòa, Tây Ninh, Châu Đốc thì theo Hồi giáo chính thống, có đi hành hương ở Mecca.

Phần kết

Hồi giáo là một tôn giáo đặc biệt hơn tất cả các tôn giáo khác vì nó hoàn toàn đồng hóa với chánh trị. Giữa Hồi giáo và Chánh trị không có ranh giới phân chia, cho nên trong một quốc gia Hồi giáo, người đứng đầu Giáo hội Hồi giáo cũng là Quốc trưởng hay Tổng Thống của nước đó.

Giáo lý của Hồi giáo phần lớn rút từ Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước của Thiên Chúa giáo, nhưng vì Hồi giáo mở ra sau Thiên Chúa giáo khá lâu, lại ở trong hoàn cảnh tranh đấu sống còn giữa các Bộ lạc Á Rập, nên Giáo lý của Hồi giáo đi đến chỗ cực đoan, thái quá, chuyên chế, hoàn toàn đồng hóa với chánh trị và quân sự, lại áp dụng chánh sách bá quyền để mở rộng Hồi giáo, xem những người không theo Hồi giáo là thù địch cần phải tiêu diệt, nên luôn luôn gây ra các cuộc chiến tranh tàn khốc, đặt dưới danh nghĩa Thánh chiến, mà người tín đồ Hồi giáo có bổn phận phải tham gia, cho đó là do ý muốn của Thượng Đế Allah.

Vì tham vọng bá quyền của các lãnh tụ Hồi giáo nên thế giới  Hồi giáo không lúc nào hòa bình yên ổn. Họ rất hiếu chiến và luôn luôn gây chiến, đánh những nước láng giềng không theo Hồi giáo, nhất là những nước theo Thiên Chúa giáo; và ngay giữa các Chi phái Hồi giáo, họ cũng đánh nhau để giành giật chánh quyền.

Tất cả tài sản quốc gia không được dùng để nâng cao đời sống dân chúng, mà là để tạo một quân đội hùng mạnh với vũ khí tối tân, giết người hằng loạt, mưu đồ thôn tính lẫn nhau, thỏa mãn mộng bá quyền.

Các nhà tiên tri đều nói rằng các nước Hồi giáo sẽ mở màn Thế giới Đại chiến thứ ba, khởi đầu Đại cuộc Tận Thế, để chuyển số nhân loại còn sống sót qua thời kỳ Thánh Đức.

Phỏng theo: Đạo cao đài và các tôn giáo khác. http://www.daotam.info/tusachdd.htm Và https://vi.wikipedia.org/wiki/

 

*

*          *

Tìm hiểu về đạo Islam

Đạo Ixlam ra đời vào đầu thế kỷ VII, từ bán đảo ARập, chủ yếu lưu hành ở châu Á(Trung Quốc gọi là đạo Hồi). Sự ra đời của đạo Ixlam gắn liền với tên tuổi của Mohammed. Tín đồ đạo Ixlam gọi là Muslim, có tới khoảng 750 triệu người. Từ những năm 1970 đến nay, các quốc gia theo đạo Ixlam đã phát huy được những ảnh hưởng ngày càng lớn trong đời sống chính trị quốc tế. Hiện nay, trong những tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Ixlam đang là đạo có nhiều biến động nhất với những tranh chấp tôn giáo xảy ra liên miên, khủng bố, bạo loạn kéo dài. (Điển hình là cuộc chiến tranh liên miên chưa biết ngày kết thúc của hai nước Ixraen và Palestin) Đây cũng là vấn đề chưa có hướng giải quyết khiến cho các tổ chức quốc tế cũng như những người ưa chuộng hoà bình vẫn luôn đang trăn trở.

1. Sự ra đời của Đạo Ixlam

1.1. Bối cảnh xã hội

Đạo Ixlam ra đời trong thời đại lịch sử xã hội A rập có nhiều biến động. Trình độ phát triển xã hội của các khu vực trên bán đảo lúc đó không đồng đều. Miền nam: là nơi cư trú của người Miha, người Xapôích và người Ximuê, điều kiện tự nhiên khí hậu thuận lợi, thích nghi phát triển nông nghiệp. Đây được coi là mảnh đất giàu có của A rập. Trước thời điểm này, người dân ở đây cũng đã trải qua các vương ttriều chế độ nô lệ, do nhiều nguyên nhân đã suy yếu và sụp đổ. Miền bắc: từng xuất hiện một số tiểu vương quốc A rập nhưng sau đó trở thành phiên thuộc của Batư và Bygiăngtin Miền trung: là nơi cư trú của người dân du mục Pêtuin, trình độ xã hội lạc hậu, kinh tế chăn nuôi là chủ yếu. Vùng đất miền trung đang trong quá trình tan rã thị tộc, dần hình thành xã hội có giai cấp. Tại thành thị Mecca: nằm giữa điểm chốt giao thông giữa ba châu lục á, Âu, Phi, do đó sự phát triển thương nghiệp dẫn tới một sự phân hoá tất yếu, chiến tranh tàn sát giữa các bộ lạc thị tộc, bộ lạc du mục và những cư dân buôn bán định cư. Sự trả thù này đã trở thành phong tục tập quán. Hai đế quốc Bygiăng và Batư cũng xảy ra chiến tranh do tranh giành con đường buôn bán ở A rập. Thiên tai, lũ lụt tàn phá làm tổn thất nhiều công trình nông nghiệp và xã hội à miền Nam nhanh chóng suy yếu. A rập đối mặt với các nguy cơ xã hội ngày càng gay gắt, sự xâm nhập và uy hiếp của ngoại tộc, các tầng lớp trong xã hội đều tìm cách thoát ly khỏi tình trạng cùng cực. Trong hoàn cảnh đó, việc liên minh các dân tộc, xây dựng một đấ nước thống nhất đã trở thành một nhu cầu lịch sử khách quan và tất yếu.

1.2 Tình hình các tôn giáo

Trước khi đạo Ixlam ra đời, tình hình tôn giáo ở A rập khá phức tạp Đa số người A rập sùng bái đa thần, trong đó ba vị đại nữ thần là: Al. Lat (thần mặt trời); Al Uzza (thần vạn năng) và Manat (thần vận mệnh). Mỗi bộ lạc thông qua nghi thức tế lễ có một thần bảo hộ riêng cho bộ lạc mình. Đạo Do thái và đạo Cơ đốc thờ một thần đã được truyền bá vào A rập. Trước khi đạo Ixlam ra đời, trên bán đảo đã xuất hiện phái Hary có khuynh hướng nhất thần luận, chỉ thờ một thần duy nhất nhưng lại chưa có giáo nghĩa hoàn chỉnh, chỉ chú trọng tu luyện cá nhân. Tuy nhiên, sự tồn tại của nó cũng là yếu tố thúc đẩy sự ra đời của đạo Ixlam.

1.3 Mohammed - khởi nguồn sáng lập đạo Ixlam

Mohammed sinh năm 570, xuất thân từ một gia đình quý tộc sa sút ở Mecca có ông nội là người quản lý Thánh điện Mecca , rất có uy tín. Cha của Mohammed là một thương nhân nghèo, đã mất trước khi Mohammed ra đời. Mẹ của Mohammed mất khi ông lên sáu, Mohammed được bác nhận nuôi dưỡng. Năm 25 tuổi, Mohammed thành hôn với một bà goá, từ đó trở nên giàu có và ổn định. Đây là điều kiện thuận lợi cho hoạt động sáng tạo tôn giáo – chính trị của ông sau này. Trước bối cảnh xã hội lịch sử của A rập thời bấy giờ, Mohammet với sự từng trải xã hội đã có những nhận thức sâu sắc về tình hình xã hội và tôn giáo trên bán đảo. Trước yêu cầu cấp bách của quần chúng, bị trào lưu xã hội thúc đẩy, ông đã bước lên võ đài cách mạng lịch sử to lớn. Tương truyền khi 40 tuổi (năm 610) Mohammet vào hang nhỏ ở núi Xira một mình tu luyện. Trong một đêm, thánh Allah (Allah chân chủ) đã cử thiên sứ Yibrail đến truyền đạt thần dụ và lần đầu tiên “Khải thị” cho Mohammet chân lý của kinh Coran, khiến ông trở thành “Thánh thụ mệnh”. Từ đó về sau, Mohammet tự xưng là sứ mệnh của “chân chủ”, bắt đầu đi truyền bá đạo Ixlem. Ban đầu, ông bí mật truyền giáo cho bạn bè thân thiết, về sau dần dần chuyển sang công khai với tất cả quần chúng Mecca nói chung. Trong khi hành đạo, Mohammet khuyên nhủ mọi người từ bỏ sùng bái đa thần, thờ Thánh Allah độc nhất vô nhị. Kinh thuyết của ông được giảng với lời lẽ xúc tích, ngắn gọn, có tiết tấu, giàu hình tượng nên có sức truyền cảm nhất định. Trước tình hình đó, các giai tầng quý tộc lo lắng cho lợi ích của mình vì vậy đã công kích và bức hại Mohammet và Muslin. Do đó, Mohammet truyền đạo được 13 năm ở Mecca dưới sự ủng hộ của dân nghèo nhưng vẫn chưa mở ra được cục diện. Năm 622, được sự hoan nghênh của Muslin về đổi mới tôn giáo, Mohammet cùng tín đồ đã thành công trong chuyến di chuyển giáo đồ về Yathrit. Để kỷ niệm sự kiện này, Muslim đã lấy năm 622 làm năm đầu của lịch Ixlam và ngày 16/7/622 là ngày Nguyên đán năm đầu tiên. Năm 630, Mohammet kéo quân đến Mecca và thành công trong cuộc chinh chiến tôn giáo. Chỉ trong một năm, tất cả các nhà thờ đã quy thuận đạo Ixlam. Trong đại hội mùa xuân năm 632, tụ họp lên tới 10 vạn tín đồ, Mohammet nhân danh thánh Allah tuyên bố “ hôm nay ta đã thiết lập xong một tôn giáo cao cả cho tất cả các người. Ta dâng trọn một ân huệ cho các người, ta đã lựa chọn đạo Hồi làm tôn giáo cho tất cả các người” Kể từ ngày đó, bán đảo A rập được thống nhất dưới lá cờ đạo Hồi. Ngày 8/6/632, Mohammet qua đời tại Madina, hưởng thọ 63 tuổi.

2. Những yếu tố dẫn tới thành công

Cuộc cách mạng tôn giáo do Mohammed tiến hành sở dĩ nhanh chóng đi tới thành công là do những yếu tố sau:

+ Cuộc cách mạng tôn giáo đó sở dĩ thành công là do nó phù hợp với tiến trình lịch sử xã hội Ảrập, phù hợp với yêu cầu khách quan từ phân tán tiến tới thống nhất của bán đảo A rập thời bấy giờ. Khi cách mạng tôn giáo của Mohammet thành công, mở ra cho chủ nô, quý tộc một viễn cảnh bán buôn rộng lớn trong một bán đảo thống nhất. Với tầng lớp dân nghèo và những người buôn bán vừa và nhỏ, giờ đây thương nghiệp phát triển, công việc làm ăn cũng dễ dàng hơn. Vì vậy cuộc cách mạng này được đông đảo giai tầng xã hội ủng hộ.

+ Xét một cách khách quan, cuộc cách mạng của Mohammet có ý nghĩa về kinh tế và chính trị, thế nhưng nó lại được tiến hành đưới cái áo khoác ngoài là tôn giáo. Chính sự kỳ diệu của tôn giáo đã thôi thúc các giai tầng khác nhau trong xã hội tìm kiếm hạnh phúc và lý tưởng của mình.

+ Ngay từ đầu, cuộc cách mạng tôn giáo đã lựa chọn con đường chính trị và tôn giáo hợp nhất. Công xã tôn giáo là một đảm bảo về tổ chức giúp Mohammed đi tới thành công. Thông qua tổ chức công xã tôn giáo, Mohammed thực hiện một loạt chế độ quân sự, chính trị, tôn giáo và nhiều chế độ khác, đặt cơ sở vững chắc cho thắng lợi của cách mạng tôn giáo. Đặc biệt sau khi vào thành Mecca, từ việc nắm giữ một thành phố, Mohammed tiến tới khống chế, chinh phục, thôn tính thành công toàn bộ bán đảo A rập.

+ Tài trí lãnh đạo khéo léo, linh hoạt cuộc cách mạng của Mohammed tùy theo sự phát triển của cuộc đấu tranh cách mạng tôn giáo, trong thời kỳ khác nhau, áp dụng những sách lược khác nhau cũng là một nhân tố quan trong dẫn tới thành công.

3. Giáo nghĩa cơ bản

Giáo nghĩa đạo Hồi do ba bộ phận cấu thành: tín ngưỡng tôn giáo (Imani); nghĩa vụ tôn giáo (Ipatatơ); và thiện hành (Ybad) Tín điều cơ bản của đạo Ixlam là: “mọi vật không phải là chúa, chỉ có chân chúa”; tôn giáo Ixalem chỉ có một thần, thờ độc thần là thánh Allah, Mohammed không phải là thần, chỉ là sứ giả của thánh Allah.

3.1 Cương lĩnh, tín ngưỡng của các tín đồ Hồi Giáo

Đạo Hồi có 6 tín ngưỡng gọi là "lục tín" đó là:

+ Tin chân thánh: Tức là tin rằng "ngoài thánh Allah không còn vị thần nào khác", "Thánh Allah là duy nhất, là độc nhất". Đây là nền tảng, là hạt nhân tín ngưỡng của Đạo Hồi không được phép thỏa hiệp hay xem thường. Đạo Hồi đòi hỏi các tín đồ "trong lòng thành" "ngoài miệng tụng niệm", "thân thể tuân hành". Tuyệt đối không được hoài nghi, tranh biện, có như vậy mới đạt được "toàn tín".

+ Tin Thiên sứ: Đây là điều tin thứ hai. Theo kinh Koran thì có rất nhiều thiên sứ, mỗi thiên sứ cai quản một công việc. Chẳng hạn có thiên sứ đảm nhiệm việc truyền đạt, có thiên sứ giữ vững trọng trách quan sát vũ trụ, và vạn vật. Theo truyền thuyết Hồi Giáo, trước khi thánh Allah lấy đất tạo ra con người đầu tiên, đã láy ánh sáng tạo ra thiên sứ để trung thành chấp hành mọi mệnh lệnh của đấng Allah, quan sát ghi chép không hề bỏ sót tất cả mọi hành vi thiện ác, tốt xấu của con người trong suốt cả cuộc đời. + Tin kinh điển: Tin rằng bộ kinh Koran là bộ kinh thần thánh do đấng Allah khải thị cho nhà tiên tri Mohammed, từ đó xây dựng uy quyền tuyệt đối của kinh Koran. Thấm nhuần đức tin này, các tín đồ Hồi Giáo cho rằng dù là về nội dung hay về mặt hành văn, kinh Koran là một kỳ tích có một không hai, không tiền hậu, không có gì có thể so sánh.

+ Tin sứ giả: "sứ giả" được coi là "quan hệ khổ sai" của Thánh Allah, nhận mệnh lệnh của thuyết truyền bá nhất thần giáo cho người đời. Tín điều này đòi hỏi các tín đồ Hồi giáo tôn sùng Mohammed, sứ giả và nhà tiên tri của đấng Allah. Trong Đạo Hồi có 124 nghìn nhà tiên tri và 28 vị sứ giả. Mohammed là một trong số những nhà sứ giả nổi tiếng. Nhà tiên tri là người trực tiếp nhận những khải thị của thánh Allah và đưa ra những điều dự đoán, còn sứ giả thì nhận những sứ mệnh chuyên môn do thánh Allah ủy thác. Do vậy địa vị của sứ giả cao hơn nhà tiên tri. Trong các thư dịch Hồi Giáo, khi nói đến sứ giả và nhà tiên tri đều nhằm chỉ Mohammed.

+ Tin kiếp sau: Các tín đồ Hồi Giáo tin rằng sau khi chết con người có thể sống lại và chịu sự phán xét của thánh Allah vào ngày tận thế. Theo giáo lý Đạo Hồi, cuộc đời con người ngắn ngủi nhưng kiếp sau tồn tại vĩnh hằng đây mới chính là nơi ở thực sự của mọi con người. Đến ngày tận thế, tất thảy mọi sự vật đều sẽ bị hủy diệt. Những con người đã chết từ ngày sáng thế tới nay đều sẽ được thánh Allah cho sống lại, rồi tề tựu đến trước mặt Thánh, tiếp nhận những lời phán xét. Ngày ấy được gọi là "Ngày phục sinh" hoặc "Ngày thanh toán","ngày thưởng thiện, báo ác". Thánh Allah sẽ phán xét từng người dựa vào công tội trên cõi đời này do thiên sứ đã ghi tỉ mỉ ai sẽ là người được đến thiên đường, ai sẽ là người phải xuống địa ngục.

+ Tin tiền định: Là hạt nhân của thuyết định mệnh Hồi Giáo. Các tín đồ Hồi Giáo tín ngưỡng rằng số phận con người do thánh Allah an bài. Trước khi chào đời, tất cả được sắp đặt xong xuôi, con người không có cách gì cưỡng lại. Đó là định mệnh.

3.2. Nghĩa vụ tôn giáo

Nghĩa vụ tôn giáo mà Muslim phải thực hành có 5 mục:

+ Niệm tức là tụng niệm "thanh châm ngôn" không những phải "nội tâm thành tín" mà còn cần phải "mồm lưỡi nói ra". Đọc ra âm để công khai bộc lộ hoặc "làm chứng" sự tín ngưỡng đối với đạo Ixlam.

+ Lễ Lễ tức là lễ bái đây là một loại nghi thức tôn giáo biểu thị sự quy thuận, cảm ơn, tán tụng, khẩn cầu, bẩm báo của Muslim đối với Allah, lấy cái đó để bảo trì tâm linh thuần khiết, cầu phúc diệt tai họa. Thời kỳ đầu, các tín đồ ở Mecca lễ bái 2 lần. Sau khi tới Mactina đổi thành lễ bái 5 lần. Trước khi lễ bái cần phải làm "lễ tinh". Nơi lễ bái phải sạch sẽ, lúc lễ bái phải hướng mặt về phía thánh đường Mecca. Hoàn thành 1 loạt động tác như đứng nghiêm, tán tụng, cong lưng, cúi đầu…

+ Trai Cứ đến tháng 9 theo lịch Ixlam trai giới 1 tháng. Thời gian này, mỗi ngày từ sáng tinh mơ tới lúc mặt trời lặn cấm ăn uống và động phòng. Người ốm, người lữ hành, phụ nữ có thai vào thời gian cho con bú sữa có thể ngoại lệ, lấy việc kéo dài trai giới và thí xá để chuộc tội.

+ Khóa Tức là giao nạp thiên khóa. Đây là 1 loại thuế tôn giáo, lấy danh nghĩa Allah để trưng thu của các tín đồ. Hiện nay, trong các quốc gia Ixlam tình hình không giống nhau, có nước chỉ coi thiên khóa là một loại tự do thí xả về mặt tôn giáo, tách biệt hẳn với việc thu thuế Nhà nước.

+ Triều Tức là triều bái, Đạo Ixlam quy định, phàm thanh niên nam nữ Muslim thân thể mạnh khỏe, đường đời xuôi thuận, có năng lực kinh tế, trong đời ít nhất phải đến thánh đường Mecca một lần. Hoạt động triều bái là một lễ hội to lớn vô cùng náo nhiệt của cộng đồng Muslin trên toàn thế giới. Những năm gần đây, số người hàng năm triều bái đã lên tới 2 triệu người.

3.3 Thiện hành (Ybad)

Đạo Ixlam có một số quy định về phương diện cuộc sống thường ngày, trở thành phong tục tập quan truyền thống của nhiều dân tộc tín ngưỡng đạo Ixlam. Đạo Ixlam chú trọng về xu hướng thanh khiết, trong sạch, đối với điều này có yêu cầu nghiêm khắc. Về mặt ăn uống, không ăn thịt súc vật chết, tiết lợn và những loài gia cầm, gia súc giết mổ chưa tụng tên thánh Ala. Đối với việc uống rượu đạo Ixlam coi nó cũng như đánh bạc, có tác hại rất lớn, cần phải ngăn cấm. Đạo Ixlam có 3 ngày tết chủ yếu. Tết khai trại (ngày 1/10 theo lịch Ixlam). Tết giết súc vật (10/12 theo lịch Ixlam), Tết thánh (10/03 lịch Ixlam).

4. Kinh Koran

4.1 Lai lịch kinh Koran

Kinh Koran là kinh điển thần thánh duy nhất của Đạo Ixlam, là nguồn gốc chế độ tín ngưỡng và tôn giáo của đạo Ixlam, là nguyên tắc căn bản của pháp lý đạo Ixlam, và lập pháp nhà nước Ixlam, là chuẩn mực tối cao để chỉ đạo mọi hành vi cá nhân và đời sống xã hội Muslim. Từ Koran tiếng A rập có nghĩa là tụng niệm, truyền giảng. Theo truyền thuyết thì kinh Koran chính là lời phán truyền của thánh Ala được lưu giữ trên 7 tầng mây, được thiên thần Capeli truyền lại cho vị sứ giả cao cả Mohammed. Kinh được khải thị trong suốt 23 năm truyền giáo của Mohammed Chương Hòn Máu được khải thị đầu tiên. Cứ mỗi lần khải thị một số tiết hoạch một số tiết có chương ngắn (chương đầu gồm 7 tiết có chương dài chương 6-165 tiết). Lúc đầu kinh được ghi chép lộn xộn trên da thú, xương bả vai cừu… Sau khi Mohammed qua đời, dưới thời kỳ Khalifa tức người kế nghiệp đầu tiên Abu Bekr, những tín đồ thuộc kinh phần lớn đã hy sinh trong chiến trận. Lo sợ kinh bị thất truyền Abu Bekr đã ra lệnh cho một số đệ tử còn thuộc kinh thu thập và chỉnh lý lại rồi do đích thân Abu Bekr cất giữ. Đến khi Abu qua đời Khalifa thứ hai Omar tiếp tục bảo quản kinh. Sau khi ông mất, vợ con ông tiếp tục cất giữ. Đến đời Khalifa thứ 3 Osman, để tránh tình trạng tam sao thất bản, ông ra lệnh chép lại bộ kinh do vợ con Omar cất giữ thành 7 bản, phân phát cho các thành phố và hủy bỏ tất cả các dị bản khác. Bộ kinh được gọi là bản gốc hoặc bản Osman.

4.2. Nội dung

Toàn bộ kinh Koran gồm 30 quyển, 114 chương, 6236 tiết. Tên cũng như thứ tự các tiết do Mohammed sắp xếp. Thứ tự các chương là do độ dài ngắn, chương dài trước chương ngắn ở sau. Chương mở đầu là trường hợp ngoại lệ, tuy ngắn nhưng được xếp lên trên đầu. Các chương tiết Mecca và các chương tiết Medina khác hẳn nhau về nội dung và phong cách. Các chương Mecca nói về thời kỳ Mohammed gian khổ thành lập tôn giáo mới. Các chương tiết phần lớn đều ngắn gọn, sáng sủa. Nội dung chủ yếu đề cập đến các giáo lý hồi giáo, tuyên bố thánh Ale là đấng sáng tạo duy nhất. Các tín đồ Hồi Giáo, nếu làm đúng lời thánh Ala dạy sẽ được báo đáp trên thiên đường. Nếu không sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc nơi địa ngục. Các chương Medina được khải thị trong thời kỳ Đạo Hồi phát triển thuận lợi. Phần lớn đều rất dài, lập luận ôn hòa. Chủ yếu trình bày các giáo pháp của Đạo Hồi. Bên cạnh việc trình bày các nghi lễ thờ cúng trai giới, triều bái còn nói đến việc cấm rượu chè, cờ bạc, ăn thịt súc vật chết… hoặc những đạo luật dân sự, hình sự về tội giết người ăn trộm, ly hôn… Kinh Koran còn viện dẫn nhiều truyền thuyết thần thoại, ngôn ngữ… nhằm mục đích truyền giáo. Các tín đồ Hồi Giáo coi Kinh Koran như vật linh thiêng, thần thánh, nó đã thâm nhập vào đời sống con người và trở thành di sản văn hóa quý báu.

4.3. Ý nghĩa của Kinh Koran

Về mặt ngôn ngữ: Kinh Koran đã làm cho ngôn ngữ A rập thống nhất và được bảo tồn. Sau khi Đạo Hồi được xác lập, cùng với sự khuyên trương đối ngoại của các đời Khalifa, sự hình thành đế quốc A rập, sự truyền bá tôn giáo, ngôn ngữ A rập, ngôn ngữ kinh điển dùng trong kinh Koran được quy định thành ngôn ngữ chính của các địa phương và quốc gia bị chinh phục. Sự ra đời của Kinh Koran thúc đẩy sự phát triển của văn hóa A rập – Hồi Giáo. Về mặt văn hóa: Các tín đồ Hồi Giáo muốn hiểu rõ ý nghĩa, nội dung và hình thức diễn đạt của kinh văn đã đi sâu nghiên cứu ngữ nghĩa, ngữ pháp tu từ của ngôn ngữ A rập tiêu chuẩn. Ngoài ra còn một số người ra công thu thập các bài thơ, ngạn ngữ, sâm ký… biên soạn thành sách, cơ sở quý giá cho việc nghiên cứu văn học cổ đại A rập. Thêm nữa, nội dung Kinh vô cùng phong phú chứa đựng nhiều câu chuyện lịch sử, truyền thuyết là nguồn cảm hứng dạt dào cho biết bao thế hệ nhà thơ, nhà văn, họa sĩ… Tóm lại sự ra đời của đạo IXLam đã có những ý nghía lịch sử xã hội nhất định. Tồn tại ngày càng lớn mạnh cho đến ngày nay, tuy có nhiều biến động nhưng đạo Ixlam là đã trở thành một trong những tôn giáo lớn nhất trên thế giới, có ảnh hưởng to lớn trên mọi phương diện: văn hoá, kinh tế, chính trị.

*

*         *

Khái quát về Hồi giáo và Hồi giáo ở Việt Nam

Thánh đường Masjid Al Muslimin – xã Quốc Thái, Huyện An Phú (Koh Kagia), tỉnh Angiang.

   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đạo Islam khi truyền bá vào Việt Nam được gọi là đạo Hồi hay Hồi giáo. Trong những sách sử Trung Hoa xưa, đạo Islam được gọi là Hồi giáo hoặc Hồi Hột giáo, vì khi nó được truyền vào Trung Hoa thông qua một bộ lạc thuộc dân tộc Hồi Hột, nên người Trung Hoa gọi Islam là đạo Hồi hoặc Hồi Hột giáo.

1. Khái quát về Hồi giáo

1.1. Khái quát sự ra đời và quá trình truyền bá Hồi giáo vào Việt Nam

1.1.1. Sự ra đời và phát triển của Hồi giáo

Đạo Islam khi truyền bá vào Việt Nam được gọi là đạo Hồi hay Hồi giáo. Trong những sách sử Trung Hoa xưa, đạo Islam được gọi là Hồi giáo hoặc Hồi Hột giáo, vì khi nó được truyền vào Trung Hoa thông qua một bộ lạc thuộc dân tộc Hồi Hột, nên người Trung Hoa gọi Islam là đạo Hồi hoặc Hồi Hột giáo. Sự ra đời của Hồi giáo bởi những tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng ở bán đảo Ảrập vào đầu thế kỷ VII.

- Hồi giáo ra đời ở bán đảo Ảrập vào đầu thế kỷ VII sau Công nguyên. Sự ra đời của tôn giáo này xuất phát bởi một loạt nguyên nhân về kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng; nó gắn liền với những biến chuyển xã hội, từ chế độ công xã nguyên thuỷ sang chế độ xã hội có giai cấp. Lịch sử thống nhất nhà nước Ảrập thành một nhà nước phong kiến độc quyền, đồng thời trên cơ sở thống nhất giữa các tín ngưỡng, tôn giáo trên bán đảo Ảrập.

 Sự ra đời của Hồi giáo gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Mohammad - người mạc khải, khai sáng tín ngưỡng Hồi giáo. Mohammad được tín đồ Hồi giáo thế giới tôn vinh là "tinh thần", "duy nhất", "toàn năng", "độ lượng", "siêu việt" và "vĩnh cửu"... là thiên sứ và Giáo chủ.

- Sau khi Hồi giáo ra đời, vào khoảng thời gian từ năm 622 đến năm 630, cùng với việc xây dựng lực lượng, tôn giáo này phải trải qua thời kỳ đấu tranh quyết liệt, kết hợp những cuộc "thánh chiến" với những hoạt động chính trị và ngoại giao, Mohammad và những người Hồi giáo đã chinh phục được thành Mecca và truyền bá Hồi giáo đến vùng này. Mohammad cùng những người anh em Hồi giáo xây dựng Mecca thành "Thánh địa " - trung tâm Hồi giáo thế giới cho tới ngày nay. Sau khi chinh phục thành Mecca, Hồi giáo đã trở thành một đế quốc bành trướng thế lực, tiếp tục mở rộng "thánh chiến" tấn công để mở rộng thế giới Hồi giáo. Mục tiêu trước hết là tiêu diệt người Do Thái ở Arabia, tàn sát và bắt những người có thái độ chống đối làm nô lệ cho người Hồi giáo chiến thắng. Từ năm 636, Hồi giáo bắt đầu những cuộc viễn chinh tấn công, mở đầu cho một thời kỳ truyền bá Hồi giáo sang các quốc gia khác. Cho đến thế kỷ XI, Hồi giáo trở thành một tôn giáo quốc tế, thống soái các quốc gia dân tộc từ Địa Trung Hải đến Vịnh Ba Tư. Vào khoảng ba thế kỷ sau (từ thế kỷ XIV đến XVI), Hồi giáo truyền bá xuống vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

- Hiện nay, Hồi giáo là tôn giáo có tín đồ đông nhất thế giới (trên 1,3 tỷ tín đồ), có mặt ở hơn 100 quốc gia trên tất cả các châu lục. Quốc gia có đông người Hồi giáo nhất hiện nay không phải là nước ở khu vực Trung Đông như nhiều người vẫn tưởng, mà là Indonesia nước ở khu vực Đông Nam Á với trên 180 triệu tín đồ chiếm 87% dân số của đất nước này.

 Mặc dù Hồi giáo Islam là một tôn giáo lớn trên thế giới, nhưng lại không có hệ thống tổ chức giáo hội quốc tế và không có hệ thống phẩm trật chức sắc (người giữ vai trò trung gian thay quyền Thượng đế Allah) mà chỉ có các giáo sĩ đảm nhận những chức trách như: Khalifat, Mufti, Naep, Hakim, Ahly, Imâm, Tuôn...

- Từ khi Mohammad qua đời, nội bộ Hồi giáo xảy ra nhiều cuộc tranh chấp quyền lực. Vì vậy, sau này Hồi giáo phải chia thành các dòng, các hệ phái khác nhau. Cho đến nay, Hồi giáo vẫn không có người thừa kế ngôi vị Khalifat (Giáo chủ). Đây là nguyên nhân chính, là hệ quả của việc Hồi giáo không có tổ chức giáo hội quốc tế. Từ thập niên 70 của thế kỷ XX trở lại đây, với sự gia tăng không ngừng số lượng tín đồ Hồi giáo trên thế giới làm cho dạng thức thuần nhất của Hồi giáo thời Mohammad không thể duy trì được mà đã có sự biến dạng thành những cộng đồng (Jamah) ngăn cách bởi chế độ xã hội của mỗi quốc gia. Theo đó, Hồi giáo cũng phát triển mối tương giao với những tín ngưỡng, tôn giáo khác. Chính vì vậy, các quốc gia có đông người Hồi giáo có khuynh hướng thành lập tổ chức Hồi giáo gắn với lãnh thổ của từng nước, kết hợp hoạt động tôn giáo với chăm lo đời sống mọi mặt cho cộng đồng. Mặt khác, một số tổ chức Hồi giáo quốc tế cũng ra đời, tuy nhiên các tổ chức này mang hình thức "liên hiệp" lỏng lẻo, không phải là tổ chức giáo hội quốc tế.

1.1.2. Sự du nhập Hồi giáo vào Việt Nam

Hồi giáo truyền vào khu vực Đông Nam Á khá sớm, khoảng thế kỷ XI, XII. Nếu so với các khu vực Hồi giáo khác trên thế giới, thì việc truyền bá Hồi giáo vào Đông Nam Á chủ yếu bằng con đường "hoà bình" qua những thương nhân Ảrập, Ấn Độ, Ba Tư. Những thế kỷ đầu sau khi ra đời, Hồi giáo phát triển nhanh như vũ bão bằng chiến tranh với công thức “thanh gươm - vó ngựa - kinh Qur'an". Tuy nhiên, khi chinh phục được Ấn Độ, đoàn quân Hồi giáo đã mệt mỏi, lại đứng trước biển cả mênh mông đã cản bước tiến quân các chiến binh Hồi giáo đến khu vực Đông Nam Á nên Hồi giáo đành phải truyền bá đến đây qua các thương nhân và các giáo sỹ. Chính sự du nhập và phát triển bằng con đường "hoà bình", lại từ nguồn Hồi giáo Ấn Độ đã dung hoà với văn hoá Ấn Độ nên Hồi giáo ở khu vực Đông Nam Á thường bị pha trộn với tín ngưỡng, phong tục tập quán địa phương. Điều này khác hẳn với những nơi Hồi giáo bành trướng bằng những cuộc chiến tranh chinh phục. Hồi giáo khu vực Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam nói riêng ít chịu ảnh hưởng của tư tưởng chủ nghĩa Hồi giáo như một số khu vực khác.

Hồi giáo du nhập vào Việt Nam qua các thời điểm khác nhau. Theo Tống sử Trung Quốc thì thế kỷ X đã thấy người Chăm khi giết trâu để cúng, họ đều cầu nguyện câu kinh đề cao Thượng đế Allah của người Hồi giáo, điều này có thể giả định từ thế kỷ thứ X, Hồi giáo đã được truyền vào đất Chiêm Thành.  

Vậy có thể nói: Từ thế kỷ X, tín ngưỡng Hồi giáo đã manh nha ở Vương quốc Chămpa thông qua các thương nhân từ Trung Cận Đông đem vào, gây ảnh hưởng nhất định trong đời sống tâm linh người Chămpa. Nhưng Hồi giáo không phát triển, có lẽ vì lòng sùng tín thần thánh Bàlamôn giáo, tập tục, lễ nghi cùng chế độ mẫu hệ đã bén rễ ăn sâu, trở thành truyền thống trong xã hội Chămpa, trải qua hơn nghìn năm không dễ gì thay đổi. Vì vậy, ở Vương quốc Chămpa cổ vào khoảng trước năm 1470 Hồi giáo chưa phải là tôn giáo chính thống của người Chăm.  

Sau năm 1470, một bộ phận cư dân Chămpa lưu tán đã tiếp xúc với người Malaysia, Indonesia, Campuchia... và họ bắt đầu tìm hiểu Hồi giáo ở các nước đó, nhiều người Chăm bỏ tôn giáo truyền thống (đạo Bàlamôn) để theo Hồi giáo. Những người Chăm khi tiếp thu được tôn giáo mới, họ quay về nước để truyền lại cho đồng bào mình. Từ đó Hồi giáo có chỗ đứng đáng kể trong cộng đồng cư dân Chămpa và chính thời điểm này sự giao hoà giữa đạo Islam và đạo Bàlamôn đã sản sinh ra một tôn giáo mới của người Chăm, đó là đạo Bàni tại miền Nam Trung bộ.

Vào năm 1840, dưới triều Nguyễn, quan bảo hộ Chân Lạp là Trương Minh Giảng bị quân của An Dương - Campuchia đánh bại phải rút chạy về vùng thượng nguồn sông Tiền (Châu Đốc - An Giang ngày nay) mang theo quân lính và người Chàm, người Mã lai theo Hồi giáo, lúc đó nhà Nguyễn dựa vào lực lượng này lập các đội quân để giữ biên giới. Từ đó hình thành vùng thứ hai theo Hồi giáo chính thống của người Chăm - đạo Islam.

Những năm cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, vùng Sài Gòn - Gia Định mở rộng giao lưu buôn bán với một số quốc gia phương tây, từ đó trở thành trung tâm buôn bán của Nam bộ. Các thương nhân đã thu nhận người Malaysia, Indonesia, Ấn Độ theo Hồi giáo. Tuy nhiên, cho mãi đến cuối thế kỷ XIX khi Nam bộ bị Pháp chiếm đóng, quá trình giao thương với bên ngoài ngày càng phát triển, là môi trường và điều kiện để cho người Malaysia và Indonesia nhập cư vào đất này đông hơn. Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ năm 1880 - 1890, ở Gia Định cũng xuất hiện một bộ phận người Ấn Độ, Pakistan có tín ngưỡng Hồi giáo là những thương nhân làm nghề buôn bán tơ lụa, đồ gia vị cho những tiệm buôn, quán ăn. Đó là nguồn gốc hình thành cộng đồng cư dân ngoại lai theo Hồi giáo ở TP. Hồ Chí Minh cho tới ngày nay.

1.2. Đức tin và giáo luật của Hồi giáo

1.2.1. Cũng như bất cứ một tôn giáo nào, giáo lý Hồi giáo cũng bao gồm những quan niệm về thế giới và con người. Tuy nhiên, giáo lý Hồi giáo chứa đựng yếu tố tín ngưỡng cổ của người Ảrập. Cơ sở giáo lý Hồi giáo là niềm tin vào Thượng đế Allah và Thiên sứ Mohammad, tin vào thiên thần và sự bất tử của linh hồn, tin vào ngày phục sinh và phán xét cuối cùng. Đặc biệt là tin vào sự vĩnh cửu của kinh Qur'an và luật Sariat.

Kinh Qur'an là thánh thư của Hồi giáo, được thiết lập gồm 30 phần, 114 chương (Surah) với 6.211 câu (Ayat) và được viết bằng tiếng Ảrập. Theo Hồi giáo, kinh Qur'an là những lời giáo huấn của Thượng đế cho mọi người mà Thiên sứ Mohammad đã nhận được qua thiên thần Gabriel trong khoảng 22 năm (610-632). Thực ra, kinh Qur'an là tập hợp những lời thuyết đạo của Mohammad lúc còn tại thế, mãi về sau này được sưu tầm, biên soạn thành văn bản chính thức lưu truyền cho đến ngày nay. Kinh Qur'an được người Hồi giáo coi là "cuốn sách vĩ đại nhất, thông thái nhất" chứa đựng mọi "chân lý và tri thức" của loài người.

Thực tiễn cho thấy, kinh Qur'an không chỉ đơn thuần là kinh sách tôn giáo mà nó còn có ý nghĩa về tính pháp lý trong xã hội, có nhiều quy định về vệ sinh, ăn ở, hôn nhân, cách cư xử trong gia đình và trong quan hệ xã hội như: quan hệ mua bán, tài chính, chính trị - có cả tội ác và hình phạt. Đây là một đặc điểm quan trọng nhất của Hồi giáo, nó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa đạo với đời, giữa tôn giáo và chính trị.

Ngoài những điều, những hành vi cuộc sống thường nhật của con người mà kinh Qur'an không quy định, hành vi “đối nhân xử thế” của Mohammad hoặc những việc làm của tín đồ mà không bị ngăn cấm đều được coi như những điều luật về tôn giáo và đạo đức của con người. Sự ghi nhận đó là cơ sở và nguồn gốc sách luật thứ hai của tín ngưỡng Hồi giáo - luật Sariat.

1.2.2. Hồi giáo là một tôn giáo không có hệ thống phẩm trật chức sắc, tuy nhiên giáo luật Hồi giáo lại chứa đựng nhiều nội dung và hành vi xử thế trong cuộc sống xã hội - con người có tính chất bắt buộc cao và rất khắt khe. Nó vượt ra khỏi phạm vi đức tin và những sinh hoạt tôn giáo thuần tuý để trở thành tiêu chuẩn pháp lý trong đời sống xã hội, chi phối mọi hoạt động của người Hồi giáo. Vì vậy, một số quốc gia Hồi giáo áp dụng và đưa luật Hồi giáo vào quản lý đất nước hoặc được thực hiện với luật pháp nhà nước. Giáo luật Hồi giáo tập trung vào 5 điều sống đạo cơ bản (còn gọi là 5 cốt đạo) sau đây:

- Xác tín hoặc còn gọi là biểu lộ đức tin (Tawhid).

- Cầu nguyện mỗi ngày (Solah).

- Tháng lễ Ramadan - tháng 9 Hồi lịch.

- Bố thí (Zakat).

- Hành hương (Hadji) viếng thánh địa Mecca.

Ngoài ra, những tín đồ Hồi giáo còn có nghĩa vụ dự thánh chiến (Jihad).

2. Hồi giáo ở Việt Nam

2.1. Những đặc điểm chủ yếu

Ở nước ta, cộng đồng cư dân Chăm theo Hồi giáo mang tính đặc thù rõ nét, được chia thành 2 dòng khác nhau. Người ta thường gọi là Chăm Islam và Chăm Bàni với những đặc điểm chủ yếu sau đây:

2.1.1. Truyền thống gắn bó và đồng hành cùng dân tộc

Việt Nam chủ yếu chỉ có người Chăm theo Hồi giáo. Vì vậy, Hồi giáo gắn bó với dân tộc Chăm, mà cư dân Chăm là một dân tộc có nền văn hoá đa dạng và phong phú; có truyền thống yêu nước, gắn kết với dân tộc và cách mạng, đã có nhiều đóng góp trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Là một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng bào Chăm Hồi giáo luôn phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống đoàn kết, yêu nước gắn bó với cộng đồng các dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc.

Hơn nữa, từ khi có Đảng đồng bào Chăm Hồi giáo luôn đi theo và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; làm tốt nghĩa vụ công dân, ủng hộ sự nghiệp đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo, góp phần viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

2.1.2. Tính chính thống của Hồi giáo có thay đổi

Bởi tác động của bản sắc văn hoá dân tộc vùng Đông Nam Á, trong đó nền tín ngưỡng, tôn giáo bản địa cổ Bàlamôn chiếm địa vị chủ yếu. Sự tác động này được gọi là quá trình “Chăm hoá”.

Như khi nghiên cứu, để chinh phục thế giới Ảrập và bành trướng thế lực, Hồi giáo chủ trương mở rộng “đất thánh” bằng các cuộc thánh chiến, với khẩu hiệu “Thanh gươm, vó ngựa, kinh Qur'an”. Nhưng khi Hồi giáo truyền bá xuống phía Đông bị cản trở bởi đại dương nên không thể tiến hành thánh chiến mà các giáo sĩ truyền đạo thông qua thương thuyền theo con đường mậu dịch để truyền bá và phát triển Hồi giáo ở vùng này. Chúng ta có thể khẳng định khi Hồi giáo truyền bá xuống phía Đông đã chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi bản sắc văn hoá truyền thống lâu đời của vùng Á Đông và tín ngưỡng cổ Bàlamôn với chế độ mẫu hệ, làm cho tính cách Hồi giáo phải biến đổi phù hợp với nền văn hóa bản địa.

2.1.3. Tính quốc tế của Hồi giáo

  Hồi giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất thế giới, đang trong xu thế của quá trình “Hồi giáo hoá thế giới”. Hơn nữa, thế giới đang đứng trước nguy cơ xung đột sắc tộc và tôn giáo trong mối quan hệ “toàn cầu hoá”. Đảng ta chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế theo phương châm “Việt Nam là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Các tôn giáo ở Việt Nam, nhất là Chăm Hồi giáo đã, đang và sẽ tiếp tục chịu sự tác động nhiều mặt của Hồi giáo thế giới. Theo đó, một số sinh hoạt tôn giáo truyền thống của Hồi giáo vốn mang tính quốc tế nay được mở rộng. Nó vừa là nhu cầu, vừa là đặc điểm phổ biến đang phát triển.

Cùng với xu thế hội nhập quốc tế của Nhà nước, Hồi giáo Việt Nam cũng mở rộng và phát triển giao lưu với các cá nhân, tổ chức Hồi giáo ngoài nước. Mối quan hệ đó không chỉ vì mục đích tôn giáo mà còn có những mục đích chính trị - xã hội. Nhằm thúc đẩy hoạt động Hồi giáo nước ta hội nhập vào cộng đồng Hồi giáo thế giới.

2.2. Thực trạng về tình hình Hồi giáo

2.2.1. Số lượng và phân bố tín đồ

Hiện nay, theo số liệu thống kê của các địa phương có Hồi giáo, số lượng tín đồ Hồi giáo khoảng hơn 72.000 người (bao gồm cả Chăm Bàni và Chăm Islam), cư trú trên địa bàn 13/63 tỉnh, thành phố cả nước. Hồi giáo ở nước ta hình thành hai dòng:

- Một là: Cộng đồng Hồi giáo tuân thủ tương đối giáo lý Hồi giáo nguyên thuỷ gọi là Chăm Islam, sống tập trung ở 12 tỉnh, thành phố: An Giang, TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Ninh Thuận, Kiên Giang, Trà Vinh, Tiền Giang, Long An, Bình Dương, Bình Phước và Thủ đô Hà Nội.

- Hai là: Cộng đồng theo Hồi giáo đã bị “Chăm hoá” gọi là Chăm Bàni, sống tập trung ở ba tỉnh: Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Phước.

Qua khảo sát về tình hình Hồi giáo ở Việt Nam, có thể rút ra một số vấn đề sau:

- Hồi giáo ở Việt Nam không nhiều và chủ yếu là trong cư dân Chăm. Tỷ lệ tín đồ tăng chậm trong thời gian qua, ngoài một bộ phận bỏ tín ngưỡng Bàni theo Islam ở Phước Nam (Ninh Thuận) vào những năm 60 của thế kỷ XX, số tín đồ theo Hồi giáo qua con đường “truyền đạo” không đáng kể và chủ yếu là tăng tự nhiên.

- Dân cư hình thành theo các nhóm cộng đồng Jam'ah có tính quần cư là chủ yếu, một bộ phận không lớn cộng cư với người Kinh và các dân tộc anh em. Tuy nhiên, tính cộng đồng - nét truyền thống tổ chức - xã hội của cư dân Chăm vẫn là lối sống đặc trưng của cư dân Chăm Hồi giáo.

- Hồi giáo nước ta có sự khác biệt giữa các vùng, trong đó Chăm Islam có mối quan hệ thường xuyên với Hồi giáo thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Mối quan hệ đó, ngoài yếu tố tôn giáo còn có quan hệ thân tộc.

2.2.2. Nhu cầu về niềm tin tôn giáo

Đồng bào Chăm Islam và Chăm Bàni có niềm tin tôn giáo sâu sắc vào Thượng đế Allah và Thiên kinh Qur'an, là nhu cầu đời sống tinh thần không thể thiếu, nó gắn chặt với yếu tố tôn giáo. Nó hoàn toàn khác với nhu cầu về vật chất trong đời sống xã hội. Nhưng niềm tin đó lại có sự khác nhau trong quá trình thực thi giáo luật Hồi giáo giữa hai dòng: Chăm Islam thực thi giáo luật Hồi giáo hầu như trọn vẹn mang tính chính thống, yếu tố tôn giáo sâu sắc hơn; Chăm Bàni thực hiện giáo luật mang tính tượng trưng, không thực hiện hết 5 điều sống đạo, chỉ thực hiện trong tháng Ramadan mà họ quen gọi là tháng “vào chùa’’ của các vị chức sắc. Mặt khác, Chăm Bàni chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tôn giáo Bàlamôn và tín ngưỡng bản địa với chế độ mẫu hệ và tín ngưỡng đa thần, có yếu tố dân tộc mang tính vượt trội.

 

        Quang cảnh buổi lễ của cộng đồng Hồi giáo tỉnh Tây Ninh

2.2.3. Về thực trạng kinh tế - xã hội

          Đánh giá một cách tổng quát, tình hình kinh tế - xã hội của đồng bào Chăm Hồi giáo nước ta hiện nay được cải thiện. Đời sống kinh tế của đồng bào Hồi giáo được nâng cao nhờ cơ sở hạ tầng phát triển, đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, phù hợp với đặc điểm của từng vùng. Các biện pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất, nhất là khi Đảng ta thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước. Cho nên, mức sống của đồng bào Chăm cũng được nâng lên theo tỷ lệ chung ở từng vùng, từng địa phương, số hộ đạt mức sống khá và giàu tăng lên. Tuy nhiên, vẫn còn một số cộng đồng Hồi giáo nhỏ lẻ thiếu đất sản xuất. Do đó, tình hình tái nghèo và thất học trong các cộng đồng này đang là một vấn đề cần được quan tâm.

          Những năm gần đây, đời sống văn hoá - xã hội trong các cộng đồng Hồi giáo cũng phát triển và tăng lên rõ rệt. Theo đó, trình độ học vấn trong đồng bào Hồi giáo cũng từng bước nâng lên, nhất là khi Nhà nước áp dụng chính sách miễn học phí cho học sinh là con em đồng bào Chăm. Một bộ phận người Chăm Hồi giáo có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học.

 2.2.4. Về cơ sở thờ tự

          Theo kết quả khảo sát, số lượng cơ sở thờ tự của Hồi giáo đến năm 2009 là 79 cơ sở. Trong đó, Chăm Islam có 40 thánh đường, 22 tiểu thánh đường; Chăm Bàni có 17 thánh đường (chùa). So với trước ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, số lượng cơ sở thờ tự của Hồi giáo tăng, nhiều cơ sở được trùng tu, sửa chữa khang trang.

2.2.5. Về tổ chức Hồi giáo

          Đối với Chăm Islam, trước năm 1975, ở miền Nam, Hồi giáo có hai tổ chức chính thức là: "Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam" và "Hội đồng giáo cả Islam Việt Nam". Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam hoạt động dưới sự điều hành của Ban Quản trị Hiệp hội Trung Ương và Đại hội đồng cơ sở. Nhằm mục đích: không hoạt động chính trị mà duy trì những tinh hoa đạo đức trong sinh hoạt tôn giáo; thực thi các tập tục truyền thống và đời sống đạo đã được kinh Qur'an giáo huấn. Tuy nhiên, cả hai tổ chức này nhất là Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam bị chính quyền Mỹ, Ngụy lợi dụng, sử dụng làm công cụ chống cách mạng. Do đó, nó cùng tồn tại đến ngày 30/4/1975 thì tự giải tán theo sự sụp đổ của chính quyền ngụy Sài Gòn.

          Mặt khác, trong cộng đồng Chăm Bàni ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, trước năm 1975 đều có tổ chức "Hội đồng giáo cả" tuy chưa được pháp luật thừa nhận nhưng trên thực tế vẫn hoạt động và tồn tại cho đến nay.

Từ sau giải phóng miền Nam đến trước khi có chủ trương của Đảng về công tác đối với Hồi giáo, ở Việt Nam mới có một tổ chức là Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo TP. Hồ Chí Minh được thành lập tháng 7/1992. Từ năm 2003 (thực hiện chủ trương của Đảng về công tác Hồi giáo), Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố có Hồi giáo đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo về mặt tổ chức cho bà con tín đồ. Đến nay, đối với Chăm Islam, có thêm hai tổ chức Hồi giáo cấp tỉnh ở tỉnh An Giang và Tây Ninh; đối với Chăm Bàni, có Hội đồng sư cả Hồi giáo Bàni tỉnh Ninh Thuận. Trong thời gian qua, việc thành lập tổ chức của các cộng đồng Hồi giáo giúp cho công tác quản lý nhà nước ở địa phương đối với Hồi giáo tốt hơn, kịp thời đáp ứng những nguyện vọng chính đáng của bà con tín đồ.

Thông qua các tổ chức này, cấp uỷ, chính quyền, UBMTTQVN và đoàn thể các cấp có nhiều thuận lợi trong việc tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho bà con tín đồ Hồi giáo. Nhằm giúp họ hiểu rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của tín đồ Hồi giáo, củng cố niềm tin, ý thức tự nguyện ủng hộ và tham gia thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, cũng như chủ trương, chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta./.

Trần Thị Minh Thu

Chuyên viên Vụ Các tôn giáo khác

Ban Tôn giáo Chính phủ

hoangtunapa90

 

*

*          *

Bài tiểu luận tìm hiểu về đạo Hồi

1. Đạo Hồi

1.1. Tổng quan

Thế giới có khoảng 2700 tôn giáo đáng kể, nhưng hiện nay chỉ có 3 tôn giáo được coi là “tôn giáo thế giới”, vì đã trên 1000 năm,có hàng trăm triệu tín đồ ở nhiều nước khác nhau trên thế giới. Đó là đạo thờ chúa Ki-tô, Phật giáo và đạo Hồi.Là một tôn giáo thế giới, đạo Hồi có vị trí, nội dung, tổ chức và ảnh hưởng văn hóa mang tầm quốc tế. Hồi giáo còn gọi đạo Islam, là một tôn giáo độc thần thuộc nhóm các tôn giáo Abraham. Nguyên nghĩa của «Hồi giáo» trong tiếng Ả Rập là Islam và có nghĩa là "vân mệnh, quy phục Thượng Đế". Người theo Islam, trong tiếng Ả Rập gọi là Muslim. Đạo Islam người Trung quốc gọi là đạo hồi, đạo Thiên Phương hoặc đạo Thanh Chân1. Sự ra đời của đạo Hồi: Ả Rập là cái nôi sinh thành và phát triển của Đạo Hồi Trên thế giới hiện nay, đạo Hồi là tôn giáo thứ hai sau Kitô giáo : Kitô giáo 1.940.000.000 tín hữu, đạo Hồi 1.200.000.000 đạo hữu. Riêng tại Cộng Đồng Châu Âu, ở Pháp có 4.500.000 người đạo Hồi (Ngoài ra còn 45.000.000 công giáo, 850.000 người Tin lành, 600.000 người Phật giáo và 150.00 người Chính thống giáo), nước Đức có 3.630.000, nước Anh 1.190.000, nước Ý 690.000, nước Hòa Lan 640.000, nước Bỉ 280.000, nước Tây Ban Nha 280.000, nước Thụy Điển 210.000, nước Ao 180.000, đảo Chypre 160.000 người hồi giáo.

Tuy nhiên các nước Ả Rập mới là nôi sinh của đạo Hồi. Khi nói đến đạo Hồi, người ta nghĩ đến khối Ả Rập, và khi nói đến khối Ả Rập, người ta nghĩ đến đạo Hồi. Lý do vì đạo Hồi ra đời giữa người Ả Rập và lan tràn khắp thế giới nhờ người Ả Rập. Chính tại Ả Rập mà người ta tìm ra những di tích, những địa điểm lịch sử của đạo Hồi. Hơn thế ngôn ngữ Ả Rập là ngôn ngữ của sách Coran. Nó mang tính cách thần thiêng. Cũng là ngôn ngữ cầu nguyện theo nghi thức chung cho mọi tín đồ đạo Hồi. Hơn thế, mọi thổ ngữ quen thuộc trong dân chúng theo văn hóa Ả Rập đều bắt gốc từ ngôn ngữ Ả Rập của CoranSự ra đời của đạo hồi xuất phát bởi một loạt nguyên nhân về kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng; nó gắn liền với những biến chuyển xã hội, từ chế độ công xã nguyên thuỷ sang chế độ xã hội có giai cấp. Lịch sử thống nhất nhà nước Ảrập thành một nhà nước phong kiến độc quyền, đồng thời trên cơ sở thống nhất giữa các tín ngưỡng, tôn giáo trên bán đảo Ảrập nhằm thay thế những tôn giáo đa thần bằng tôn giáo độc thần. Mohammed được coi là người sáng lập đạo HồiMohammed là người Mecca, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, song lại rất thông minh. Vào quãng bốn mươi tuổi, Mohammed xuất hiện như một người có nhiều uy tín, rất được kính trọng trong xã hội ông sống. Người ta gọi ông là El Amin nghĩa là người khôn ngoan và lương thiện.Ông đã được thánh Allah truyền đạt thần dụ, tiếp thu sứ mệnh của chân chủ và trở thành người truyền đạo, ông được coi là người đầu tiên sáng lập ra hồi giáo.

1.2. Sự phát triển của đạo Hồi

Sau khi nhận được sự phán truyền, đầu tiên Mohammed bí mật truyền giáo trong số những bạn bè thân thiết và họ trở thành những tín đồ đầu tiên. Ông truyền bá những tư tưởng bình đẳng, lòng nhân từ và phê phán việc thờ phụng thần tượng. Trong 10 năm (611-621) sự truyền đạo trở nên công khai, đối tượng mở rộng tới quần chúng ở Mecca nhưng bị giới quý tộc đả kích và bức hại.Những người có thế lực thờ ơ với việc truyền đạo của ông, về những lời cảnh báo về địa ngục đang chờ họ, năm 621 những lời tiên tri có vẻ im ắng dần.những tín đồ nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau, những người Mecca bắt đầu khủng bố họ, Mohammed bị các quý tộc tìm cách sát hại. Mohammed đã trốn được đến Yathrib (sau đổi thành Madinah - Thành phố tiên tri). Ở đây ông phát động và tổ chức quần chúng đấu tranh và cuộc cách mạng của ông giành được thắng lợi. Sau đó ông tổ chức vũ trang cho các tín đồ (Muslim) và dùng khẩu hiệu “Chiến đấu vì Allah” và đè bẹp được giới quý tộc ở Mecca. Từ năm 630 Cùng với việc mở rộng phạm vi truyền đạo Mohammed còn liên minh với các bộ tộc và dùng sức mạnh buộc các thế lực còn lại phải quy thuận theo Hồi giáo. Như vậy, Sau khi Hồi giáo ra đời đến năm 630, cùng với việc xây dựng lực lượng, tôn giáo này phải trải qua thời kỳ đấu tranh quyết liệt, kết hợp những cuộc "thánh chiến" với những hoạt động chính trị và ngoại giao, Mohammed và những người Hồi giáo đã chinh phục được thành Mecca và truyền bá Hồi giáo đến vùng này. Mohammed cùng những người anh em Hồi giáo xây dựng Mecca thành "Thánh địa " - trung tâm Hồi giáo thế giới cho tới ngày nay. Sau khi chinh phục thành Mecca, Hồi giáo đã trở thành một đế quốc bành trướng thế lực, tiếp tục mở rộng "thánh chiến" tấn công để mở rộng thế giới Hồi giáo. Mục tiêu trước hết là tiêu diệt người Do Thái ở Arabia, tàn sát và bắt những người có thái độ chống đối làm nô lệ cho người Hồi giáo chiến thắng. Từ năm 636, Hồi giáo bắt đầu những cuộc viễn chinh tấn công, mở đầu cho một thời kỳ truyền bá Hồi giáo sang các quốc gia khác. Cho đến thế kỷ XI, Hồi giáo trở thành một tôn giáo quốc tế, thống soái các quốc gia dân tộc từ Địa Trung Hải đến Vịnh Ba Tư. Vào khoảng ba thế kỷ sau (từ thế kỷ XIV đến XVI), Hồi giáo truyền bá xuống vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Có thể nói cuộc cách mạng do Mohammed lãnh đạo là một cuộc cách mạng tôn giáo và cải cách xã hội kết hợp với nhau. Sự ra đời của Hồi giáo đã mở ra một thời kỳ lịch sử mới thống nhất trên bán đảo Ảrập. Từ khi Mohammed qua đời, nội bộ Hồi giáo xảy ra nhiều cuộc tranh chấp quyền lực. Vì vậy, sau này Hồi giáo phải chia thành các dòng, các hệ phái khác nhau. Cho đến nay, Hồi giáo vẫn không có người thừa kế ngôi vị Khalifat (Giáo chủ). Đây là nguyên nhân chính, là hệ quả của việc Hồi giáo không có tổ chức giáo hội quốc tế. Từ thập niên 70 của thế kỷ XX trở lại đây, với sự gia tăng không ngừng số lượng tín đồ Hồi giáo trên thế giới làm cho dạng thức thuần nhất của Hồi giáo thời Mohammad không thể duy trì được mà đã có sự biến dạng thành những cộng đồng (Jamah) ngăn cách bởi chế độ xã hội của mỗi quốc gia. Theo đó, Hồi giáo cũng phát triển mối tương giao với những tín ngưỡng, tôn giáo khác. Chính vì vậy, các quốc gia có đông người Hồi giáo có khuynh hướng thành lập tổ chức Hồi giáo gắn với lãnh thổ của từng nước, kết hợp hoạt động tôn giáo với chăm lo đời sống mọi mặt cho cộng đồng. Mặt khác, một số tổ chức Hồi giáo quốc tế cũng ra đời, tuy nhiên các tổ chức này mang hình thức "liên hiệp" lỏng lẻo, không phải là tổ chức giáo hội quốc tế.Thời Mohammed đạo Hồi chỉ truyền bá ở bán đảo Arập.Sau đó cùng quá trình chinh phục Arập đạo Hồi đã truyền bá khắp Tây Á,Trung Á,Bắc Phi và Tây Ban Nha.Hiện nay, Đạo Hồi chia làm 2 giáo phái chính: phái Shiit và phái Xumu. Ngoài ra còn các phái như phái i-xma-in, phái bê-ka-it..Phái shiit: • Sau khi Mohammed chết từ (632-661)Arập có 4 calipha lần lượt được bầu ra là: Abu Bekr(632-634);Ôma(634-644);Ôman(644-656) và Ali(656-661)cho rằng chỉ có Ali là dòng dõi của tiên tri• Năm 661 Ali bị ám sát họ coi Ali như vị thánh• Họ coi nơi thờ Ali và Huxen là nơi thiêng liêng thứ 3 sau caaba và lăng Mohammed• Họ tin rằng dòng dõi Ali sẽ là những người rất sáng suốt là hóa thân của Chúa.Phái Xu-nit: • Xu-nit là phái hồi giáo chính thống họ thừa nhận cả 4 calipha đầu tiên đều là những người kế thừa hợp pháp của Mohammed.Đa số tín đồ Hồi giáo theo phái này.

1.3. Đặc điểm của đạo hồi

1.3.1. Giáo chủ

Mohammed là người La Mecca, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, song lại rất thông minh. Vào quãng bốn mươi tuổi, Mohammed xuất hiện như một người có nhiều uy tín, rất được kính trọng trong xã hội ông sống Mohammed là người có chí hướng tôn giáo mãnh liệt, không thỏa mãn với hiện tượng đa thần kỳ quái của các bộ lạc Ả Rập. Lâu lâu ông tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện và suy tư. Nơi ông thường hay lui tới là hang động Hira, gần La Mekke. Chính trong hang động này, năm 610, ông đã thực hiện một tháng chay tịnh, ngày nay gọi là Ramadan. Và vào ngày 27 trong tháng Ramadan, ông được giác ngộ Trong đêm đó thánh Allah (Ala – Chân chủ) đã cử thiên sứ Gabrien đến truyền đạt Thần dụ và lần đầu tiên “khải thị” cho ông chân lý của Kinh Coran khiến ông trở thành “Thánh thụ mệnh”. Những lời nói của thiên sứ là những lời đầu tiên hình thành nên kinh Coran. Và ông tự xưng là đã tiếp thụ sứ mệnh của chân chủ trao cho và bắt đầu truyền đạo. Theo niềm tin của người hồi giáo, thì đây là lần đầu tiên ông lãnh nhận các mạc khải thần linh. Cho đến cuối đời, ông miệt mài trao truyền những mạc khải ông thụ lãnh. Đó là ‘đêm Định Mệnh’ được nói đến trong sách Coran (chương Coran 97, 74,81, 53). Dựa theo truyền thống đạo Hồi, thì qua biến cố này, ông được coi là người sáng lập Đạo Hồi.

1.3.2. Giáo lý (giáo lý của đạo hồi được trình bày trong kinh Coran)

Tuy cùng một hệ thống nhất thần của các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham nhưng giáo lý Hồi giáo không chịu ảnh hưởng tư tưởng của Cơ đốc giáo và Do Thái giáo. Không như những tôn giáo bạn, đạo Hồi chỉ có duy nhất một quyển thiên kinh Coran, . Đối với các tín đồ Hồi giáo, thiên kinh Coran là một vật linh thiêng, vì đó chính là lời phán của Allah Đấng Toàn Năng.Đặc điểm giáo lý của Hồi giáo là rất đơn giản nhưng luật lệ và lễ nghi rất phức tạp và nghiêm khắc thậm chí đến mức khắt khe và nhiều khi nó vượt ra khỏi phạm vi tôn giáo và trở thành một chuẩn mực pháp lý của xã hội. Trong Hồi giáo khó thấy ranh giới giữa cái thiêng và cái tục.• Giáo lý cơ bản của Hồi giáo là Kinh Coran (Coran theo nguyên nghĩa tiếng Ảrập là “tụng đọc”) vì đó là những lời nói của Môhammed được ghi lại và những lời này do thánh Allah thông qua thiên sứ Gabrien “khải thị” cho Mohammed. Kinh Coran tổng cộng có 30 quyển, 114 chương hơn 6236 tiết (là những đoạn thơ).được sắp xếp theo nguyên tắc dài trên ngắn dưới. Nội dung Kinh Coran vô cùng phong phú đại thể bao gồm những tín ngưỡng cơ bản và chế độ tôn giáo của đạo Hồi và những ghi chép về tình hình xã hội trên bán đảo Ảrập đương thời cùng với những chính sách về chủ trương xã hội, quy phạm luân lý đạo đức… Giáo lý Hồi giáo gồm các điểm cơ bản sau:+ Allah là đấng tối cao sinh ra trời đất.+ Allah là đấng tối cao sinh ra muôn loài trong đó có con người.+ Con người là bình đẳng trước Allah nhưng số phận và tài năng tạo nên sự khác nhau giữa những con người

+ Số phận con người có tính định mệnh và do Allah sắp đặt.

+ Tín đồ Hồi giáo phải luôn có thái độ đúng: trong cộng đồng (Hồi giáo) thì phải kiên nhẫn chịu đựng, phục tùng Allah, đối với người ngoài thì phải kiên quyết bảo vệ mọi lợi ích của Hồi giáo và phải có tinh thần thánh chiến.

+ Ngoài Allah, người có vị trí quan trọng thứ hai đó là giáo chủ Mohammed, đây là sứ giả của Allah và tiên tri của tín đồ.Ông có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của tín đồ+ Hồi giáo cũng cho rằng con người có 2 phần: thể xác và linh hồn, thể xác là vỏ bọc bên ngoài, còn linh hồn là bất tử. Ngoài ra còn có quan niệm về sự tái sinh sau khi chết, ngày tận thế, ngày phục sinh….Về y lý: khuyên bảo con người phải giữ gìn sức khỏe.+ Những lời khuyên về đạo lý:

• Tôn thờ thần cao nhất là Allah.

• Sống nhân từ độ lượng.

• Thưởng phạt công minh, trừng phạt chủ yếu đối với kẻ thù.

• Thánh chiến là thiêng liêng và bắt buộc.

• Kiên định và nhẫn nại trong mọi thử thách.

• Tin vào định mệnh và sự công minh của Allah.

• Cấm một số thức ăn: thịt heo, rượu bia và các chất có men. (Heo là con vật gắn với khởi nguyên: phát triển là nhờ chăn nuôi).

• Trung thực.

• Không tham của trộm cắp

• Làm lễ và tuân thủ các nghi lễ Hồi giáo. c, Giáo luật và 5 trụ cột cơ bản của đại hồi:Do quá trình phát triển của hồi giáo phải đương đầu với nhiều dân tộc có nền văn minh hơn, nên nảy sinh nhiều quy định và luật lệ mới cho phù hợp, từ đó cho ra bộ luật thứ hai của đạo hồi là Sariat. Đây trở thành cuốn luật phong tục của người hồi giáo và nó có 5 trụ cột cơ bản sau:

* Shahadan - tuyên xưng đức tin. Mỗi tín đồ Hồi giáo phải tuyên thệ: không có thánh nào khác ngoài đấng Allah và Mohammed là nhà tiên tri và là sứ giả của ngài.

* Salat - sự cầu nguyện. Các tín đồ Hồi giáo phải cầu nguyện 5 lần trong một ngày: lúc sáng sớm khi bình minh hé rạng và phải trước khi mặt trời đã lên hẳn trên đường chân trời; buổi trưa lúc mặt trời đứng bóng; buổi chiều lúc mặt trời nghiêng 45 độ so với mặt đất; lúc mặt trời lặn và buổi tối trước khi đi ngủ.

* Zakat - bố thí cho người nghèo. Người theo đạo Hồi phải thực hiện một nghĩa vụ mà tự mình, nhà tiên tri Mohammed là người nêu tấm gương sáng, đó là bớt đi một phần tài sản của mình để giúp đỡ người nghèo. Con số thông thường là 2,5% thu hoạch hàng năm, hay 10% lợi tức từ mùa màng hoặc kinh doanh của họ. Những người giàu có được khuyến khích làm từ thiện nhiều hơn. Những ai làm từ thiện nhiều hơn số lượng quy định được coi là là một Sadagah - người thiện tâm.

* Sawm - nhịn ăn, uống trong tháng ăn chay Ramadan. Mỗi ngày trong tháng ăn chay Ramadan, tất cả các tín đồ Hồi giáo, chỉ trừ trẻ em, phụ nữ có thai và những người ốm, đều phải nhịn ăn từ lúc rạng sáng cho đến khi mặt trời lặn. Trong tháng ăn chay, người Hồi giáo không những nhịn ăn mà còn phải nhịn uống, dù đó là nước khoáng, nước suối, nước lọc tinh khiết hay đơn giản chỉ là nước đun sôi để nguội. Tháng ăn chay cũng đồng thời là tháng trai giới, các tín đồ Hồi giáo trong thời gian từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn không được động phòng.

* Hajj - hành hương đến Mecca. Mecca, thành phố thiêng liêng bất tử ở Arập Xê -út, quê hương của Mohammed, là thánh địa của người Hồi giáo. Người Hồi giáo muốn đắc đạo thì ít nhất trong đời phải đến được thành phố Mecca - nơi có ngôi đền thờ thượng đế Kaaba, trong đó có hòn đá thiêng để cầu nguyện và được hôn hoặc sờ tay vào đó một lần. Đức tin của người Hồi giáo về Mecca và về cuộc hành hương Hajj gắn liền với vai trò của thành phố này trước kỷ nguyên Hồi giáo, khi đó đã là một trung tâm thần thánh, một địa điểm tôn nghiêm và là nơi thờ phụng của các tôn giáo đa thần. Theo đức tin Hồi giáo thì Mecca chính là trung tâm của thế giới, là nơi khởi đầu của sự sáng thế. Abraham, vị tiên tri đầu tiên của tôn giáo độc thần đích thực đã được Chúa trời triệu gọi để đi từ Palestine đến chính cái thung lũng này, nơi mà ngày nay gọi là Mecca. Và ông cùng con trai Ishmail đã xây dựng ở đây một ngôi đền thờ thượng đế theo hình một khối lập phương, đó chính là đền Kaaba.Bên cạnh các trụ cột cơ bản của đạo Hồi, người Hồi giáo có một số tập quán riêng rất đáng chú ý:

* Họ tên của người theo đạo Hồi (thường là ở các nước Arập) thường có tên bố và tên ông nội. Ví dụ: Ali bin Ahmed bin Saled al-Fulani có thể dịch là anh Ali, con trai ông Saled, cháu nội ông Saled, mang dòng họ Fulani hoặc Nura bint Ahmed Bin Saled al -Fulani có thể dịch là cô Nura, con gái ông Ahmed, cháu nội ông Saled mang dòng họ Fulani[4].

* Người theo đạo Hồi không ăn thịt lợn. Kinh Coran cấm người theo đạo Hồi ăn thịt lợn. Có nhiều cách giải thích khác nhau, tuy nhiên người Hồi giáo thường giải thích quy định này một cách khá đơn giản và dể hiểu. Khi người ta chết, thể xác tan biến vào lòng đất còn linh hồn sẽ được lên thiên đường hoặc xuống địa ngục. Đấng Allah chỉ cho phép những người có linh hồn trong sạch lên thiên đường. Do lợn là động vật tạp ăn, ăn tất cả những gì người ta đổ vào máng, vì vậy lợn không thể có dòng máu trong sạch như những động vật ăn cỏ. ăn thịt lợn, người Hồi giáo cho rằng, linh hồn con người có thể bị nhiễm bẩn nên không thể lên thiên đường được.

* Người phụ nữ che mạng hoặc quàng khăn qua đầu. Trong thời kỳ phong kiến, người phụ nữ Hồi giáo có một địa vị thấp kém và bị phân biệt đối xử so với nam giới. Người phụ nữ ra đường phải đeo mạng che mặt vì một quan niệm rất phổ biến trong thế giới Hồi giáo lúc bấy giờ là người phụ nữ chỉ được phép tiếp xúc với những người thân trong gia đình và không được phép để những người lạ thấy mặt mình. Trong thời kỳ hiện đại, trừ một số nước Hồi giáo cực đoan, còn hầu hết các nước Hồi giáo đã cho phép phụ nữ ra đường không đeo mạng che mặt. Thay vào đó, họ thường quàng một chiếc khăn qua đầu ngay cả những ngày thời tiết nóng nực. Một số ít nước Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ, người phụ nữ thành thị đã hoàn toàn thoát khỏi phong tục che mạng, họ cũng không quàng khăn qua đầu; ăn mặc thì theo phong cách hiện đại.

* Chế độ đa thê. Theo tục lệ Hồi giáo, người đàn ông có thể lấy bốn vợ với điều kiện phải cư xử với các bà vợ bình đẳng như nhau. Trong thời kỳ phong kiến, người đàn ông có nhiều vợ thường được xã hội tôn trọng do quan niệm cho rằng, đó là những người đàn ông khoẻ mạnh và giàu có. Ngày nay, tư duy này đã được thay đổi ở nhiều quốc gia Hồi giáo, bởi chế độ hôn nhân một vợ, một chồng ngày càng được phổ biến trong xã hội.*Cắt bao quy đầu cho các bé trai. Một tục lệ khá phổ biến của người Hồi giáo là cắt bao quy đầu cho các bé trai từ hai đến năm tuổi. Cắt bao quy đầu là giáo luật đối với các nam tín đồ Hồi giáo và sự kiện này được ăn mừng như một ngày lễ. Như lễ đầy tháng ở Việt Nam, gia đình của bé trai thường làm tiệc thết đãi họ hàng và bạn hữu.

* Phong tục tang lễ. Phong tục tang lễ của người Hồi giáo khá đặc biệt so với các tôn giáo khác. Người chết phải được chôn trong vòng 24 tiếng đồng hồ kể từ khi chết, nhưng không được chôn vào ban đêm. Người Hồi giáo tin rằng sau khi chết, con người sẽ được về với đấng Allah. Sau khi thi thể được tắm rửa, người chết được quấn trong một tấm vải để hở mặt cho người thân đến viếng. Người chết được mai táng trong tấm vải lượm đó mà không cần bất cứ một quan tài nào, vì như vậy, theo quan niệm của người Hồi giáo, thi thể chóng tan vào lòng đất và người chết sẽ sớm được lên thiên đường. Huyệt mộ phải được đào sâu sao cho khi đấng Allah gọi và người chết ngồi dậy thì đầu không cao hơn mặt đất. Chân người chết phải hướng về thánh địa Mecca ở Arập Xê -út để khi được gọi, người chết nhằm hướng đó mà đi. ởnhiều nơi, người chết được chôn nằm nghiêng về bên phải, mặt quay về hướng Mecca.

* Phụ nữ và hôn nhân gia đình: Hồi giáo đánh giá thấp vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.Phụ nữ ra đường phải che mặt,không được tự ý tiếp xúc với đàn ông,giữ gìn trinh tiết đén khi lấy chồng, phải chung thủy, không được phếp ngoại tình, không được chủ động trong việc ly hôn. Nếu làm trái sẽ bị xử rất nặng theo đạo hồi, có thể còn bị tử hình.Người hồi giáo dựng vợ gả chồng từ rất sớm, thong thường từ 10 tuổi trở lên. Cấm những kết hôn với mệ ghẻ, con gái, anh chị em ruột, mẹ nuôi…Nói tóm lại, luật lệ hồi giáo rất nhiều, rất chi tiết và khắt khe, trở thành tiêu chuẩn pháp lý trong đời sống xã hội, chi phối mọi hoạt động của tín đồ. Ở mỗi nước khác việc áp dụng luật ở mức khác nhau, có những nước sử dụng nó song song với dân luật, hình luật.d. Tổ chức Hồi giáo- Thánh đường Hồi giáo là nơi sinh hoạt tập thể và có tính thiêng với các tín đồ.

- Thánh đường gồm có Đại Thánh đường và Tiểu Thánh đường. - Tất cả các thánh đường hồi giáo diieeuf phải làm theo hướng quay về phía Mecca. Trong Thánh đường có bài trí đơn giản, không bàn ghế, không có đồ thờ quý hay nhạc cụ.Chỉ có 1 không gian trống trải , rộng lớn, sạch sẽ, đẹp; tường, trần nhà, mái vòm được trang trí bằng những nét kỷ hà hay chữ Arap, bên trong chỉ có chiếc gậy mà theo truyền thuyết là của giáo chủ Môhammet đã dùng nó để đi truyền đạo.- Hệ thống chức sắc gồm có Giáo chủ (Mufty), phó giáo chủ (Naib Mufty), Giáo cả (Ha Kim), phó giáo cả (Naib Ha Kim), Imân, Khatib, Tuan, Bilat, Slak, HaDji.e, Hệ thống nghi lễTrong năm, đạo Hồi có nhiều ngày lễ :

• Lễ ‘Muharram’ tức ngày đầu năm tưởng nhớ Mohammed di tản tới Médine.

• Lễ ‘Mulud’, lễ có tính cách bình dân để kỷ niệm ngày sinh nhật của Mohammed. Lễ này bị nhiều người chống đối vì không được dành một phụng tự nào cho Ngôn Sứ của Thiên Chúa.

• Lễ ‘Đêm Định Mệnh’, cử hành vào ngày 27 tháng Ramadan, kỷ niệm ngày Mohammed nhận được mạc khải đầu tiên.

• Lễ ‘Achoura’: Ngày thứ 10 trong năm, đối với ngành Chiites rất quan trọng : Họ kỷ niệm ngày tạ thế của Hocéine là cháu của Mohammed tử đạo vì đức tin.

• Hai lễ quan trọng hơn cả : lễ ‘Kết thúc tháng Ramadan’ và ‘Hiến tế của Abraham’.
- Lễ kết thúc tháng chay Ramadan (Aid es Seghir).

Trong lễ này, nổi bật tinh thần ‘đổi mới thiêng liêng’ của người Hồi giáo sau tháng chay tịnh. Đây là lúc mọi tín đồ thi nhau làm việc bố thí, góp tiền giúp đỡ dân nghèo khổ, đói kém... Theo truyền thống, mọi người được mời đến cầu nguyện chung ở ngoài trời, bạn bè chúc nhau thăng tiến đời sống. «Chớ gì lễ này trở thành lời chúc phúc cho chúng tôi, cho các bạn và cho nhiều người khác » Lễ này cũng được gọi là lễ ‘giải hòa’.

- Lễ hiến tế của Abraham (Aid el kbir).

Lễ này cử hành vào ngày thứ bảy mươi sau tháng Ramadan, nhắc lại cuộc hiến tế của Abraham. Câu chuyện được kể lại trong Coran (Cr 37,102-109). Theo lệnh của Thiên Chúa, Abraham không sát tế con mình là Isaac (Ismael, theo truyền thống của đạo Hồi), nhưng là con cừu đực. Chính vì thế, chủ yếu của ngày lễ là ‘cắt cổ một con cừu, rồi nấu lên và cả gia đình cùng ăn, có thể mời lối xóm đến dùng chung’, để nhắc nhở : người tin tưởng thật sự là người quy phục Thiên Chúa theo gương Abraham.- Lễ kết thúc tháng chay Ramadan (Aid es Seghir).

Trong lễ này, nổi bật tinh thần ‘đổi mới thiêng liêng’ của người Hồi giáo sau tháng chay tịnh. Đây là lúc mọi tín đồ thi nhau làm việc bố thí, góp tiền giúp đỡ dân nghèo khổ, đói kém... Theo truyền thống, mọi người được mời đến cầu nguyện chung ở ngoài trời, bạn bè chúc nhau thăng tiến đời sống. «Chớ gì lễ này trở thành lời chúc phúc cho chúng tôi, cho các bạn và cho nhiều người khác » Lễ này cũng được gọi là lễ ‘giải hòa’.

- Lễ hiến tế của Abraham (Aid el kbir).

Lễ này cử hành vào ngày thứ bảy mươi sau tháng Ramadan, nhắc lại cuộc hiến tế của Abraham. Câu chuyện được kể lại trong Coran (Cr 37,102-109). Theo lệnh của Thiên Chúa, Abraham không sát tế con mình là Isaac (Ismael, theo truyền thống của đạo Hồi), nhưng là con cừu đực. Chính vì thế, chủ yếu của ngày lễ là ‘cắt cổ một con cừu, rồi nấu lên và cả gia đình cùng ăn, có thể mời lối xóm đến dùng chung’, để nhắc nhở : người tin tưởng thật sự là người quy phục Thiên Chúa theo gương Abraham.quy tắc ăn mặc Cách ăn mặc trong Hồi giáo nhấn mạnh sự giản dị. Cả phụ nữ và nam giới không được mặc quần áo qua mỏng hay quá chật để lộ cơ thể. Đối với nam giới, họ phảI mặc kín từ mắt cá tới rốn. Đối với phụ nữ, họ phải mặc kín chỉ để hở bàn tay và mặt, không nhất thiết phải che mạng

1.4. Thành tựu và hạn chế của đạo hồi

1.4.1. Thành tựu

- Định hướng hành vi và hoạt động của con người- Sự tin tưởng và phục tùng của các tín đồ Hồi giáo vào thánh Alla và những điều ghi trong kinh Coran(nghĩa vụ của các tín đồ) Vd:cấm không được uống rượu….có các chuẩn mực về đạo đức

- Các tín đồ phải đóng thuế cho đạo nhằm xây cất thánh thất và bố thí cho người nghèo mang tính nhân đạo- Mỗi năm có một tháng ăn chay(Ramadan) thể hiện tinh thần thanh khiết,là dịp các tín đồ trau dồi phẩm hạnh

- Góp phần hoàn thiện nhân cách con người,hướng con người tới Chân – Thiện – Mỹ.

- Cầu nguyện, bố thí, nhịn ăn và hành hương là 4 bổn phận của Hồi giáo thêm lòng tin vào Alla và vị tiên tri nữa thành 5 cái trụ cột của Hồi giáo.

- Một thành tựu nữa đó là Kinh Coran

- bộ thánh kinh điển,là quyển bách khoa tri thức của người Hồi chứa đựng các nguyên tắc tôn giáo,đạo đức,pháp luật,nó cũng là cơ sở cơ bản để xây dựng pháp luật

- Đạo Hồi luôn có những ‘căng thẳng’ nội bộ: chính thống và tà giáo, bảo thủ và cấp tiến hay phản kháng, canh tân và cách mạng, chủ hòa và bạo động, ôn hòa và cuồng tín.

- Những ‘căng thẳng nội bộ’, nhìn vào một khía cạnh nào đó, cũng là một dấu hiệu tốt về ‘sự thức tỉnh’ sống đức tin, ‘nỗ lực hội nhập và thích ứng’ với những thay đổi và tiến bộ không ngừng của thế giới con người.

1.4.2. Hạn chế

• Giống như vấn đề nhân quyền nói chung, quyền phụ nữ từ lâu là một vấn đề gây tranh cãi giữa các chế độ xã hội khác nhau.

• Tình trạng bất bình đẳng giữa nam và nữ vẫn tồn tại, và ở nhiều trường hợp còn trầm trọng thêm như ở Trung Đông, Nam á, và cận - Phi châu.

• Mặc dầu cuộc sống bị o ép của người phụ nữ được xem như là một yếu tố ngăn cản sự phát triển xã hội, nhưng đề cập tới việc giải phóng phụ nữ đôi khi còn bị coi là mưu toan lật đổ chế độ.

• Vd:Tại Irắc, Arập Xêut, và Apganixtan cũng như phần nào ở Nigiêria, Inđônêxia, và Pakixtan, vấn đề quyền phụ nữ gây căng thẳng giữa khuynh hướng cực đoan tôn giáo và quan điểm tiến bộ. Giải quyết vấn đề này là điều quan trọng đối với các quốc gia. Bởi việc coi rẻ phụ nữ có thể dẫn đến đình đốn về kinh tế, thể chế dân chủ không phát triển và thường có xu hướng quá khích.

Vấn đề đa thê: Chương IV của sách Coran nói nhiều đến quyền hạn và bổn phận của người đàn ông mà không đề cập gì tới quyền của người phụ nữ. Đàn ông có thể cưới nhiều vợ

• Luật lệ khắt khe:

- Phân biệt, kỳ thị những người theo đa thần giáo

- Luật lệ và nghi lễ của đạo Hồi rất phức tạp,nghiêm khắc

2. Đạo hồi ở Việt Nam

2.1. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội hình thành từ lâu trong lịch sử và có ý nghĩa vô cùng quan trọng ảnh hưởng tới đời sống kinh tế

- xã hội của Việt NamViệt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Do thuộc khu vực Đông Nam Á ba mặt giáp biển nên tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu văn hóa giữa các vùng trong khu vực và trên thế giới.Có thể nói Việt Nam là bảo tàng tôn giáo của thế giới với 6 tôn giáo chính:Tôn giáo có nguồn gốc từ phương đông: Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo.Tôn giáo có nguồn gốc từ phương tây: Thiên chúa giáo và Tin Lành Có những tôn giáo được sinh ra ở Việt Nam như: Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo. Có những tôn giáo hoàn chỉnh,phát triển ổn định,có những tôn giáo sơ khai đang tìm hướng phát triển. Vấn đề tôn giáo ởViệt Nam là một vấn đề phức tạp đòi hỏi Đảng và nhà nước có chính sách” đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân” góp phần ổn định chính trị và phát triển kinh tế xã hội.2. Sự du nhập và phát triển của đạo hồi ở Việt Nam:Hồi giáo là một danh từ mà những người Việt Nam dùng để chỉ cho những người đi theo tôn giáo Islam nói chung. Là láng giềng của một quốc gia có đông tín đồ Hồi giáo nhất trên thế giới, nhưng tại Việt Nam, cộng đồng Hồi giáo chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp so với toàn thể dân số Việt Nam (0.075%). Tín đồ hồi giáo chủ yếu là người Chăm, có khoảng 70 nghìn tín đồ tập trung ở khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang,TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai.Hồi giáo du nhập vào Việt Nam qua các thời điểm khác nhau. Theo Tống sử Trung Quốc thì thế kỷ X đã thấy người Chăm khi giết trâu để cúng, họ đều cầu nguyện câu kinh đề cao Thượng đế Allah của người Hồi giáo, điều này có thể giả định từ thế kỷ thứ X, Hồi giáo đã được truyền vào đất Chiêm Thành. Từ thế kỷ X, tín ngưỡng Hồi giáo đã manh nha ở Vương quốc Chămpa thông qua các thương nhân từ Trung Cận Đông đem vào, gây ảnh hưởng nhất định trong đời sống tâm linh người Chămpa. Nhưng Hồi giáo không phát triển, có lẽ vì lòng sùng tín thần thánh Bàlamôn giáo, tập tục, lễ nghi cùng chế độ mẫu hệ đã bén rễ ăn sâu, trở thành truyền thống trong xã hội Chămpa, trải qua hơn nghìn năm không dễ gì thay đổi. Vì vậy, ở Vương quốc Chămpa cổ vào khoảng trước năm 1470 Hồi giáo chưa phải là tôn giáo chính thống của người Chăm. Sau năm 1470, một bộ phận cư dân Chămpa lưu tán đã tiếp xúc với người Malaysia, Indonesia, Campuchia... và họ bắt đầu tìm hiểu Hồi giáo ở các nước đó, nhiều người Chăm bỏ tôn giáo truyền thống (đạo Bàlamôn) để theo Hồi giáo. Những người Chăm khi tiếp thu được tôn giáo mới, họ quay về nước để truyền lại cho đồng bào mình. Từ đó Hồi giáo có chỗ đứng đáng kể trong cộng đồng cư dân Chămpa và chính thời điểm này sự giao hoà giữa đạo Islam và đạo Bàlamôn đã sản sinh ra một tôn giáo mới của người Chăm, đó là đạo Bàni tại miền Nam Trung bộ. Vào năm 1840, dưới triều Nguyễn, quan bảo hộ Chân Lạp là Trương Minh Giảng bị quân của An Dương - Campuchia đánh bại phải rút chạy về vùng thượng nguồn sông Tiền (Châu Đốc - An Giang ngày nay) mang theo quân lính và người Chàm, người Mã lai theo Hồi giáo, lúc đó nhà Nguyễn dựa vào lực lượng này lập các đội quân để giữ biên giới. Từ đó hình thành vùng thứ hai theo Hồi giáo chính thống của người Chăm - đạo Islam. Những năm cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, vùng Sài Gòn - Gia Định mở rộng giao lưu buôn bán với một số quốc gia phương tây, từ đó trở thành trung tâm buôn bán của Nam bộ. Các thương nhân đã thu nhận người Malaysia, Indonesia, Ấn Độ theo Hồi giáo. Tuy nhiên, cho mãi đến cuối thế kỷ XIX khi Nam bộ bị Pháp chiếm đóng, quá trình giao thương với bên ngoài ngày càng phát triển, là môi trường và điều kiện để cho người Malaysia và Indonesia nhập cư vào đất này đông hơn. Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ năm 1880 - 1890, ở Gia Định cũng xuất hiện một bộ phận người Ấn Độ, Pakistan có tín ngưỡng Hồi giáo là những thương nhân làm nghề buôn bán tơ lụa, đồ gia vị cho những tiệm buôn, quán ăn. Đó là nguồn gốc hình thành cộng đồng cư dân ngoại lai theo Hồi giáo ở TP. Hồ Chí Minh cho tới ngày nay. Sau đó hồi giáo còn phát triển ra khu vực miền trung. Do vị trí địa lý và hoàn cảnh truyền đạo, điều kiện sống và sự giao lưu của đồng bào Chăm với bên ngoài nhất là với thế giới Hồi giáo mà ở Việt Nam hình thành 2 khối Hồi giáo với nhiều khác biệt đáng kể: Hồi giáo miền Trung Việt Nam gọi là Hồi giáo Chăm Bani. Đây là nhóm Hồi giáo không chính thống vì đã pha lẫn với yếu tố sinh hoạt và tôn giáo bản địa. Các lễ thức được tiếp biến cho phù hợp với chế độ gia đình mẫu hệ và các lễ liên quan đến chu kỳ đời sống của con người và các lễ thức nông nghiệp, không có liên hệ với Hồi giáo thế giới. Có thể nói rằng, Hồi giáo Bàni ở Việt Nam là tôn giáo đặc trưng chỉ có ở Việt Nam, nó gắn chặt với dân tộc Chăm, là một phần tạo nên bản sắc văn hoá tôn giáo của người Chăm, mặt khác chính bản sắc văn hoá của người Chăm đã có tác động làm "mềm hoá" tính cứng nhắc của Hồi giáo, làm cho hệ phái Hồi giáo ở Việt Nam phong phú và đa dạng. Hồi giáo ở miền Nam Việt Nam là Hồi giáo Chăm Islam, theo Hồi giáo chính thống, thuộc hệ phái Safi'i dòng Sunni, không bị pha trộn với phong tục, tập quán, tín ngưỡng cũ và thường xuyên liên hệ với thế giới Hồi giáo Campuchia và Malaysia. Tuy có sự khác nhau nhưng giữa hai khối Hồi giáo này không có sự kỳ thị mà hòa hợp với nhau. Sau năm 1975 với cuộc chiến Việt Nam kết thúc, một bộ phận trong số 55.000 tín đồ đạo Hồi người Chăm tại Việt Nam đã trốn sang Malaysia.Hầu hết các tín đồ ở lại Việt Nam vẫn được phép sinh hoạt tôn giáo như bình thường cho dù những thánh đường Hồi giáo bị đóng cửa, cũng như các cơ sở giáo dục của người Hồi giáo bị trưng dụng bởi chính quyền mới.So với các tôn giáo khác, tín đồ Hồi giáo tại Việt Nam chiếm tỷ lệ rất thấp cũng như không có những va chạm với chính quyền, vì vậy chính quyền ít kỳ thị và kiểm soát chặt chẽ với tín đồ. Vào năm 1981, khách nước ngoài đến Việt Nam vẫn được tự do nói và cầu nguyện bằng tiếng bản xứ của họ. Vào năm 1985, các thánh đường Hồi giáo tại miền Nam được cho phép mở cửa lại, thậm chí, chính quyền còn cho phép thành lập tổ chức Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1992. Năm 2004, một Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo khác cũng được thành lập ở An Giang. Hiện nay, những người theo đạo Hồi ở Việt Nam được xem là cô lập với thế giới Hồi giáo. Mệnh lệnh từ Ả Rập thậm chí còn không đến được với những người đứng đầu cộng đồng Hồi giáo tại Việt Nam. Chủ yếu, các liên hệ với thế giới Hồi giáo Ả Rập của các tín đồ Việt Nam chủ yếu thông qua Malaysia hoặc Indonesia. Sự thiếu liên hệ trực tiếp với thế giới Hồi giáo Ả Rập, cùng với việc thiếu các cơ sở giáo dục Hồi giáo, khiến cho đạo Hồi ở Việt Nam trở nên kém phát triển. Người Hồi giáo Việt Nam hiện nay có thể tìm hiểu ý nghĩa của Kinh Coran bằng tiếng Việt qua bản dịch Việt ngữ . Cuốn “Thiên kinh Coran – Ý nghĩa và nội dung” đã được nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành lần đầu vào năm 2001.Tháng 1 năm 2006, Thánh đường Hồi giáo tại xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, được xây dựng lại trên nên giáo đường cũ đã được mở cửa, dựa trên sự đóng góp một phần từ Ả Rập Saudi. Đây được xem là một trong những sự liên hệ trực tiếp trở lại của tín đồ Hồi giáo tại Việt Nam với thế giới Hồi giáo Ả Rập. Tiếp sau đó, Thánh đường Hồi giáo lớn nhất Việt Nam (tính đến hết năm 2009) đã được xây dựng tại ấp Đồng Ki, xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang, khánh thành tháng 12/20093. Hiện trạng hồi giáo tại Việt Nam: a. Số lượng và phân bố tín đồ Hiện nay, theo số liệu thống kê của các địa phương có Hồi giáo, số lượng tín đồ Hồi giáo khoảng hơn 70.000 người (bao gồm cả Chăm Bàni và Chăm Islam), cư trú trên địa bàn 13/63 tỉnh, thành phố cả nước. Hồi giáo ở nước ta hình thành hai dòng: - Một là: Cộng đồng Hồi giáo tuân thủ tương đối giáo lý Hồi giáo nguyên thuỷ gọi là Chăm Islam, sống tập trung ở 12 tỉnh, thành phố: An Giang, TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Ninh Thuận, Kiên Giang, Trà Vinh, Tiền Giang, Long An, Bình Dương, Bình Phước và Thủ đô Hà Nội. - Hai là: Cộng đồng theo Hồi giáo đã bị “Chăm hoá” gọi là Chăm Bàni, sống tập trung ở ba tỉnh: Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Phước. Qua khảo sát về tình hình Hồi giáo ở Việt Nam, có thể rút ra một số vấn đề sau:

- Hồi giáo ở Việt Nam không nhiều và chủ yếu là trong cư dân Chăm. Tỷ lệ tín đồ tăng chậm trong thời gian qua, ngoài một bộ phận bỏ tín ngưỡng Bàni theo Islam ở Phước Nam (Ninh Thuận) vào những năm 60 của thế kỷ XX, số tín đồ theo Hồi giáo qua con đường “truyền đạo” không đáng kể và chủ yếu là tăng tự nhiên.

- Dân cư hình thành theo các nhóm cộng đồng Jam'ah có tính quần cư là chủ yếu, một bộ phận không lớn cộng cư với người Kinh và các dân tộc anh em. Tuy nhiên, tính cộng đồng

- nét truyền thống tổ chức

- xã hội của cư dân Chăm vẫn là lối sống đặc trưng của cư dân Chăm Hồi giáo.

- Hồi giáo nước ta có sự khác biệt giữa các vùng, trong đó Chăm Islam có mối quan hệ thường xuyên với Hồi giáo thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Mối quan hệ đó, ngoài yếu tố tôn giáo còn có quan hệ thân tộc.

2.2. Nhu cầu về niềm tin tôn giáo

Đồng bào Chăm Islam và Chăm Bàni có niềm tin tôn giáo sâu sắc vào Thượng đế Allah và Thiên kinh Coran, là nhu cầu đời sống tinh thần không thể thiếu, nó gắn chặt với yếu tố tôn giáo. Nó hoàn toàn khác với nhu cầu về vật chất trong đời sống xã hội. Nhưng niềm tin đó lại có sự khác nhau trong quá trình thực thi giáo luật Hồi giáo giữa hai dòng: Chăm Islam thực thi giáo luật Hồi giáo hầu như trọn vẹn mang tính chính thống, yếu tố tôn giáo sâu sắc hơn; Chăm Bàni thực hiện giáo luật mang tính tượng trưng, không thực hiện hết 5 điều sống đạo, chỉ thực hiện trong tháng Ramadan mà họ quen gọi là tháng “vào chùa’’ của các vị chức sắc. Mặt khác, Chăm Bàni chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tôn giáo Bàlamôn và tín ngưỡng bản địa với chế độ mẫu hệ và tín ngưỡng đa thần, có yếu tố dân tộc mang tính vượt trội. Đánh giá một cách tổng quát, tình hình kinh tế - xã hội của đồng bào Chăm Hồi giáo nước ta hiện nay được cải thiện. Đời sống kinh tế của đồng bào Hồi giáo được nâng cao nhờ cơ sở hạ tầng phát triển, đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, phù hợp với đặc điểm của từng vùng. Các biện pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất, nhất là khi Đảng ta thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước. Cho nên, mức sống của đồng bào Chăm cũng được nâng lên theo tỷ lệ chung ở từng vùng, từng địa phương, số hộ đạt mức sống khá và giàu tăng lên. Tuy nhiên, vẫn còn một số cộng đồng Hồi giáo nhỏ lẻ thiếu đất sản xuất. Do đó, tình hình tái nghèo và thất học trong các cộng đồng này đang là một vấn đề cần được quan tâm. Những năm gần đây, đời sống văn hoá

- xã hội trong các cộng đồng Hồi giáo cũng phát triển và tăng lên rõ rệt. Theo đó, trình độ học vấn trong đồng bào Hồi giáo cũng từng bước nâng lên, nhất là khi Nhà nước áp dụng chính sách miễn học phí cho học sinh là con em đồng bào Chăm. Một bộ phận người Chăm Hồi giáo có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học.4. Thánh đường Hồi giáo nổi tiếng tại Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam có hơn 40 Thánh đường Islam và 25 surao (nơi cầu nguyện nhỏ hơn thánh đường). Do tín đồ Hồi giáo Islam tại Việt Nam (khoảng 70.000 tín đồ) tập trung chủ yếu ở Thành phố Hồ Chí MinhAn Giang, nên hầu hết các thánh đường lớn đều tập trung ở đây. Thánh đường Al Rahman ở 45 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Thánh đường này chủ yếu dành cho người Maylaysia và người Indonesia. Đây là Thánh đường Hồi giáo được xây dựng sớm nhất (1885) tại Việt Nam. Thánh đường Jamia Al Noor ở 12 Hàng Lược, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đây là thánh đường Hồi giáo duy nhất ở miền Bắc Việt Nam và là thánh đường Hồi giáo thứ hai được xây dựng tại Việt Nam (1890).Thánh đường Jamia Al Muslim ở 66 Đông Du, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Thánh đường này được xây dựng vào năm 1935, được xem thánh đường Hồi giáo lớn nhất tại thành phố Hồ Chí Minh. Thánh đường Jamiyah Islamic ở 52 Nguyễn Văn Trỗi, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một thánh đường của người Chăm và cũng là Văn phòng Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh.Thánh đường Jamiul Muslimin ở ấp Đồng Ki, xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Đây là thánh đường Hồi giáo lớn nhất Việt Nam tính đến hết năm 2009. Thánh đường Al Mubarak ở xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, thường được gọi là “chùa Chăm An Giang”, là nơi có cho phép du khách vào tham quan. Đây cũng là thánh đường Hồi giáo duy nhất có lối thảm cho nữ giới vào thánh đường. Ngoài ra ở đây có làng Chăm Châu Giang nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm5. Về tổ chức Hồi giáo Đối với Chăm Islam, trước năm 1975, ở miền Nam, Hồi giáo có hai tổ chức chính thức là: "Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam" và "Hội đồng giáo cả Islam Việt Nam". Hiệp hội Chăm Hồi giáo Việt Nam hoạt động dưới sự điều hành của Ban Quản trị Hiệp hội Trung Ương và Đại hội đồng cơ sở. Nhằm mục đích: không hoạt động chính trị mà duy trì những tinh hoa đạo đức trong sinh hoạt tôn giáo; thực thi các tập tục truyền thống và đời sống đạo đã được kinh Coran giáo huấn. Tuy nhiên, cả hai tổ chức này nhất là Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam bị chính quyền Mỹ, Ngụy lợi dụng, sử dụng làm công cụ chống cách mạng. Do đó, nó cùng tồn tại đến ngày 30/4/1975 thì tự giải tán theo sự sụp đổ của chính quyền ngụy Sài Gòn. Mặt khác, trong cộng đồng Chăm Bàni ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, trước năm 1975 đều có tổ chức "Hội đồng giáo cả" tuy chưa được pháp luật thừa nhận nhưng trên thực tế vẫn hoạt động và tồn tại cho đến nay.Từ sau giải phóng miền Nam đến trước khi có chủ trương của Đảng về công tác đối với Hồi giáo, ở Việt Nam mới có một tổ chức là Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo TP. Hồ Chí Minh được thành lập tháng 7/1992. Từ năm 2003 (thực hiện chủ trương của Đảng về công tác Hồi giáo), Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố có Hồi giáo đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo về mặt tổ chức cho bà con tín đồ. Đến nay, đối với Chăm Islam, có thêm hai tổ chức Hồi giáo cấp tỉnh ở tỉnh An Giang và Tây Ninh; đối với Chăm Bàni, có Hội đồng sư cả Hồi giáo Bàni tỉnh Ninh Thuận. Trong thời gian qua, việc thành lập tổ chức của các cộng đồng Hồi giáo giúp cho công tác quản lý nhà nước ở địa phương đối với Hồi giáo tốt hơn, kịp thời đáp ứng những nguyện vọng chính đáng của bà con tín đồ.Thông qua các tổ chức này, cấp uỷ, chính quyền, UBMTTQVN và đoàn thể các cấp có nhiều thuận lợi trong việc tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho bà con tín đồ Hồi giáo. Nhằm giúp họ hiểu rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của tín đồ Hồi giáo, củng cố niềm tin, ý thức tự nguyện ủng hộ và tham gia thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, cũng như chủ trương, chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.6. Đặc điểm chủ yếu của hồi giáo ở Việt Nam Ở nước ta, cộng đồng cư dân Chăm theo Hồi giáo mang tính đặc thù rõ nét, được chia thành 2 dòng khác nhau. Người ta thường gọi là Chăm Islam và Chăm Bàni với những đặc điểm chủ yếu sau đây:

-. Truyền thống gắn bó và đồng hành cùng dân tộc Việt Nam chủ yếu chỉ có người Chăm theo Hồi giáo. Vì vậy, Hồi giáo gắn bó với dân tộc Chăm, mà cư dân Chăm là một dân tộc có nền văn hoá đa dạng và phong phú; có truyền thống yêu nước, gắn kết với dân tộc và cách mạng, đã có nhiều đóng góp trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Là một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng bào Chăm Hồi giáo luôn phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống đoàn kết, yêu nước gắn bó với cộng đồng các dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc. Hơn nữa, từ khi có Đảng đồng bào Chăm Hồi giáo luôn đi theo và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; làm tốt nghĩa vụ công dân, ủng hộ sự nghiệp đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo, góp phần viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

- Tính chính thống của Hồi giáo có thay đổi Bởi tác động của bản sắc văn hoá dân tộc vùng Đông Nam Á, trong đó nền tín ngưỡng, tôn giáo bản địa cổ Bàlamôn chiếm địa vị chủ yếu. Sự tác động này được gọi là quá trình “Chăm hoá”. Như khi nghiên cứu, để chinh phục thế giới Ảrập và bành trướng thế lực, Hồi giáo chủ trương mở rộng “đất thánh” bằng các cuộc thánh chiến, với khẩu hiệu “Thanh gươm, vó ngựa, kinh Coran”. Nhưng khi Hồi giáo truyền bá xuống phía Đông bị cản trở bởi đại dương nên không thể tiến hành thánh chiến mà các giáo sĩ truyền đạo thông qua thương thuyền theo con đường mậu dịch để truyền bá và phát triển Hồi giáo ở vùng này. Chúng ta có thể khẳng định khi Hồi giáo truyền bá xuống phía Đông đã chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi bản sắc văn hoá truyền thống lâu đời của vùng Á Đông và tín ngưỡng cổ Bàlamôn với chế độ mẫu hệ, làm cho tính cách Hồi giáo phải biến đổi phù hợp với nền văn hóa bản địa.

- Tính quốc tế của Hồi giáo Hồi giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất thế giới, đang trong xu thế của quá trình “Hồi giáo hoá thế giới”. Hơn nữa, thế giới đang đứng trước nguy cơ xung đột sắc tộc và tôn giáo trong mối quan hệ “toàn cầu hoá”. Đảng ta chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế theo phương châm “Việt Nam là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Các tôn giáo ở Việt Nam, nhất là Chăm Hồi giáo đã, đang và sẽ tiếp tục chịu sự tác động nhiều mặt của Hồi giáo thế giới. Theo đó, một số sinh hoạt tôn giáo truyền thống của Hồi giáo vốn mang tính quốc tế nay được mở rộng. Nó vừa là nhu cầu, vừa là đặc điểm phổ biến đang phát triển.Sự du nhập của hồi giáo vào Việt Nam có sự thay đổi so với đạo hồi chính thống, một số phong tục tập quán có sự thay đổi như Nam giới không được theo chế độ đa thê, các giáo luật không được thực hiện một cách đầy đủ (họ không đọc kinh Coran, không làm lễ 5 lần mỗi ngày, không biết cách thức cầu nguyện theo nghi thức hồi giáo, Phụ nữ ra đường không phải trùm khăn kín mặt…nói chung hồi giáo khi du nhập vào nước ta thì các luật lệ đã bớt đi sự khắt khe và mang màu sắc riêng của từng nước. Cùng với xu thế hội nhập quốc tế của Nhà nước, Hồi giáo Việt Nam cũng mở rộng và phát triển giao lưu với các cá nhân, tổ chức Hồi giáo ngoài nước. Mối quan hệ đó không chỉ vì mục đích tôn giáo mà còn có những mục đích chính trị - xã hội. Nhằm thúc đẩy hoạt động Hồi giáo nước ta hội nhập vào cộng đồng Hồi giáo thế giới.

3. Biến thể hồi giáo Bani trong văn hóa chămpa

- Hệ thống thần linh và hệ thống giáo luậtTừ tín ngưỡng đa thần của Bàlamôn giáo, người Chăm Bàni chuyển sang tín ngưỡng nhất thần, chỉ thờ phụng thánh Ala và thiên sứ Mohammed. Tuy nhiên, trong tiềm thức của người Chăm Bàni vẫn sâu đậm quan niệm đa thần, thể hiện trong việc tham gia vào các nghi lễ mang tính chất nông nghiệp như lễ hội Rija nưgar, lễ hội Kaplau krong, Plao Pasah...Tôn giáo Bàni là Hồi giáo du nhập từ Indonesia, Malaysia từ lâu đời và cũng từ lâu, nó đã bị bản địa hóa khá đậm. Hồi giáo Bàni không có sự liên lạc với Hồi giáo quốc tế mà còn không chịu chấp nhận Hồi giáo mới. Vì vậy, hệ thống giáo lý giáo luật của tôn giáo Bàni hiện nay đã khác xa với hệ thống giáo lý giáo luật của Hồi giáo quốc tế. Tuy vậy, hệ thống giáo lý giáo luật của Bàni vẫn có một cái gốc chung là kinh CoranChữ Ả Rập trong kinh Coran đã bị cải biến và chuyển sang nhiều thế hệ chữ Chăm nên ngày càng xa bản gốc.

- Hệ thống nghi lễ, việc thờ cúngKhác với Hồi giáo chính thống, tín đồ Bàni không làm lễ năm lần mỗi ngày. Ngày thánh lễ là vào thứ sáu hàng tuần và cũng chỉ tổ chức đơn giản vào một thời gian nhất địnhTháng chay Ramưvan là thời gian quan trọng nhất của người Bàni, Nhưng người theo Bàni không phải nhịn ăn vào ban ngày như luật Hồi giáo quy định.c. Tang lễTang lễ người Chăm Bàni Ninh Thuận đơn giản, không phân biệt đẳng cấp, dòng họ nhưng cũng có nhiều nghi thức tang lễ khác nhau phân biệt bởi tuổi bị chết:

Loại lễ tang do một thầy Char làm lễ trong các lễ tang cho trẻ con, người chết không bình thường, chết khi còn là bào thai, phải chôn tạm rồi sau này mới được đưa vào nghĩa địa. Loại lễ tang có hai thầy Char dành cho trẻ chết dưới 10 tuổi nhưng được chôn vào nghĩa địa. Loại lễ tang do ba thầy Char làm lễ dành cho những người chết dưới 70 tuổi. Loại lễ tang do sáu thầy Char làm lễ dành cho những người chết trên 70 tuổi. Tang lễ này có nghi thức rửa tội. Loại lễ tang do 13 thầy Char làm lễ dành cho các tu sỹ và những người giàu có. Loại lễ tang do 17 thầy Char làm lễ dành cho những người chết là Pôgrù (thầy cả).

- Cưới hỏi: Qui định của luật và giáo lý Hồi giáo buộc tín đồ Hồi giáo chung sống với nhau phải thông qua lễ cưới hỏi. Người Chăm Hồi giáo Islam cũng như người Chăm Hồi giáo Bà Ni coi sự độc thân là một tội lỗi, nên trong gia đình thường gả con sớm.Cũng như người Chăm Bà La Môn, người Chăm Hồi Giáo Bà Ni quan niệm người con gái thuộc nội tộc, con gái là nội tướng, có bổn phận nội trợ, quản lý tài sản, phụng dưỡng cha mẹ, chăm sóc chồng con, thờ cúng tổ tiên v.v... Người con gái ngoài bổn phận làm mẹ, làm vợ còn cả tứ đức: Công, dung, ngôn, hạnh và rất hiếu khácIII. Đảng và Nhà nước đối với đạo hồi

Năm 40 tuổi, Thánh Mohammed đã gặp Thiên thần Gabriel - người được phái xuống để thông báo rằng ông đã được chọn làm sứ giả của Thiên Chúa.


CHIA SẺ BÀI VIẾT

Bài cùng chủ đề
Loading

SÁCH CỦA TÔI