Giải nghĩa kinh Bát Nhã

Cập nhật: 18/10/2017 Lượt xem: 107

GIẢI NGHĨA BÁT NHÃ TÂM KINH

“Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” là một bộ kinh rất ngắn của Đại Thừa Phật giáo, chỉ gồm 262 chữ nhưng lại có ý nghĩa rất thâm sâu, rất cơ bản. Đây là bản kinh trung tâm nói về trí tuệ thâm sâu, nhằm phá thói quen chấp thật rất nặng nề của chúng sinh, đưa chúng sinh vượt qua bể khổ (sông mê) sang bờ giác ngộ (cõi Niết bàn: nơi thoát khổ hạnh). Kinh này được các chùa tụng niệm rất thường xuyên, các thầy cúng đám ma, ngay cả ở nông thôn miền nam Việt Nam cũng tụng kinh này. Có thể nói kinh này rất quen thuộc với Phật tử, nhưng mọi người có hiểu rõ ràng tường tận ý nghĩa của nó không, thì không dám chắc. Có rất nhiều bài viết nhằm giải nghĩa kinh này nhưng chúng tôi thấy bài viết dưới đây của Thích nữ Hằng Như dễ hiểu nhất vì được Việt hóa, ít dùng Hán nghĩa, xin được dẫn để các bạn tham khảo.

Dịch nghĩa

Bát Nhã (1) Ba La Mật Đa (2) Tâm (3) Kinh (4)

Bồ tát (5) Quán tự tại (6) khi thực hành Bát nhã ba la mật đa (trí tuệ thâm sâu)  đã hiểu thấu năm uẩn (7) đều là không (8), nên vượt qua mọi khổ ách.

Xá Lợi Tử (9)! Sắc (10) chẳng khác không (11), không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.

Xá Lợi Tử! Tướng(12) không các pháp(13) đây, chẳng sinh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Cho nên, trong không, không sắc, không thọ, tưởng, hành, thức; không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhãn giới cho đến không ý thức giới; không vô minh cũng không vô minh hết; cho đến không già chết, cũng không già chết hết; không khổ, tập, diệt, đạo; không trí cũng không đắc.

Bởi không sở đắc, Bồ tát nương Bát nhã ba la mật đa (trí tuệ thâm sâu), nên tâm không mắc ngại; vì không mắc ngại nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, rốt ráo niết bàn. Chư Phật ba đời nương Bát nhã ba la mật đa (trí tuệ thâm sâu) nên chứng a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Nên biết Bát nhã ba la mật đa (trí tuệ thâm sâu) là chú thần lớn, là chú minh lớn, là chú vô thượng, là chú không gì sánh bằng, trừ hết mọi khổ ách, chắc thật vì không dối.

Nên nói chú Bát nhã ba la mật đa, nên nói chú rằng: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tát bà ha.

Ghi chú:

(1) Bát nhã: Trí tuệ sâu sắc hơn trí thông thường (trí tuệ đã được hiểu thấu, trí tuệ thâm sâu).

(2) Ba la mật đa: Sang bến bờ bên kia (ý nói sự kiện toàn của Trí Tuệ, Trí Tuệ hoàn hảo, Trí Tuệ cao nhất, gọi là Bát Nhã Ba-La-Mật.).

(3) Tâm: trung tâm, tim.

(4) Kinh: Lời nói của thánh nhân,  cần phân biệt với những lời nói của người nổi tiếng chỉ là truyện.

(5) Bồ tát: Chỉ những người tu tập, có mục tiêu muốn đạt tới quả vị Phật. Người thức tỉnh, chỉ người tu hành đã đạt đến giác ngộ.

(6) Quán tự tại (quán thế âm): Người lắng nghe người khác.

(7) Năm uẩn (ngũ uẩn): Uẩn là một nhóm các yếu tố.  Năm nhóm yếu tố kết hợp lại thành một con người đó là:

- Sắc uẩn: Vật chất (ám chỉ thân thể con người). 

- Thọ uẩn: Cảm giác (có 6 giác quan: mắt, tai, lưỡi, mũi, da, ý).

- Tưởng uẩn: Tri giác (sự nhận biết đối tượng).

- Hành uẩn: Ý chí (yếu tố tâm lý tạo động lực đi tới sự nghiệp).

- Thức uẩn: Nhận thức (phát hiện sự có mặt của đối tượng, có 6 thức: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, và ý thức).

(9) Xá Lợi Tử (Xá lợi phất): Ngài là đệ tử lớn trong số 10 đệ tử của Đức Phật, một trong 10 vị A LA HÁN. A LA HÁN là là "người xứng đáng" hoặc là "người hoàn hảo" theo Phật giáo Nguyên thủy, đã đạt tới Niết-bàn, thoát khỏi hoàn toàn Luân hồi. Tuy nhiên theo các giáo phái khác trong Phật giáo, thì thuật ngữ này để chỉ những người đã tiến rất sâu trên con đường giác ngộ, cũng thoát được sinh tử luân hồi nhưng chưa hoàn toàn viên mãn, nói cách khác là chưa đạt Phật quả.

(10) Sắc: Vật chất (theo quan niệm Phật giáo thì có 4 yếu tố tạo nên vật chất là địa (rắn), thủy (lỏng), hỏa (nhiệt), phong (khí)). Sắc trong kinh này ám chỉ thân thể con người.

(11) Không: Không ở đây có nghĩa là trống rỗng, khác với không và có.

(12) Tướng: Biểu hiện của tính (tính là bản thể nó vô hình giống như hư không nhưng không phải hư không)

(13) Pháp: Chân lý, hiện hữu.

Có thể hiểu nôm na nội dung kinh như sau:

Bồ tát Quán thế âm khi tu luyện trí tuệ thâm sâu đã hiểu thấu 5 yếu tố kết hợp trong một con người đều có tính trống rỗng, nên ngài đã vượt qua mọi khổ ách.

Này Xá Lợi tử! Thân thể con người chẳng khác gì cái trống rỗng, cái trống rỗng chẳng khác gì thân thể con người; thân thể tức là trống rỗng, trống rỗng tức là thân thể; cảm giác, tri giác, ý chí, nhận thức cũng như vậy.

Này Xá Lợi tử! Bởi thế, mọi hiện tượng đều là trống rỗng; chúng không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm. Trong Không (trống rỗng), không có thân thể, không có cảm giác, không tri giác, không có ý chí, không có nhận thức; không có mắt, không tai, không mũi, không lưỡi, không da, không ý; không thân, không thanh, không hương, không vị, không xúc giác, không chân lý (pháp). Không có nhãn giới và vân vân cho đến không có ý thức giới. Không có vô minh cũng không có diệt hết vô minh, và vân vân cho đến không có già, không có chết cũng không có diệt hết già chết. Không có khổ, tập, diệt đạo. Không có trí tuệ, không có chứng đắc, cũng không có không chứng đắc.

Này Xá-lợi-phất, vì không có chứng đắc nên do đó người tu hành an trụ theo Trí tuệ thâm sâu. Vì tâm không uế chướng nên không sợ hãi, vượt khỏi sai lầm, đạt tới không còn khổ hạnh (niết-bàn).

Tất cả chư Phật, an trụ trong tam thế tỉnh thức viên mãn và thấu suốt, cũng y theo Trí tuệ thâm sâu mà được vô thượng, chánh đẳng, chánh giác.

Do vậy, phải biết được rằng chú Trí tuệ thâm sâu vốn là đại tri chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là ngang bằng với vô đẳng chú, diệt trừ được mọi khổ não – là chân thật vì nó không sai sót. Chú Trí tuệ thâm sâu được tuyên thuyết như sau:

Vượt qua, vượt qua, vượt qua bên kia, hoàn toàn vượt qua, tìm thấy giác ngộ.

DẪN NHẬP

Dựa trên bài giảng xúc tích của Thầy Thiền Chủ Thích Thông Triệt tại Tổ Đình Tánh Không, Nam California cho Tăng Ni trong mùa An Cư Kiết Đông (2015), và bài giảng của Ni Sư Triệt Như cho các thiền sinh tại đạo tràng Tánh Không Hoa Thịnh Đốn. Cả hai vị giảng cùng một đề tài. Hôm nay, người viết mạo muội tổng hợp và ghi nhận lại những ý chính, nhắm làm quà đầu năm cho tất cả những ai thích tìm hiểu. Nếu bài viết có gì sai sót kính thỉnh Thầy Thiền Chủ hay Ni Sư Triệt Như hoan hỷ điều chỉnh giúp, để hàng học hậu chúng con được mở mang thêm phần nào kiến thức về Phật học. Kính đa tạ. Thích nữ Hằng Như.   

NGUỒN GỐC

Vào thế kỷ thứ 7 ngài Trần Huyền Trang là một cao tăng đời nhà Đường, Trung Hoa, đã du học phật pháp tại Ấn Độ 17 năm. Về sau, khi trở về Trung Hoa, ngài mang theo bộ kinh Phật và để ra 18 năm để dịch ra tiếng Hoa cho tới khi qua đời.

Bài Bát Nhã Tâm Kinh là bài kinh thuộc hệ Phát Triển, viết bằng tiếng Sanskrit là bài kinh quan trọng chủ yếu nên người ta gọi là trái tim (Tâm kinh), được dịch sang Hoa văn rồi lan truyền khắp các nước Đông Nam Á, tính đến nay đã trải qua gần 19 thế kỷ.

Tìm hiểu tác giả bài kinh này thì không ai biết.

Xem lại nguồn gốc lịch sử chúng ta thấy rằng hệ thống kinh Bát Nhã rất đồ sộ, hơn 600 quyển gồm nhiều bài thi kệ nhưng không đề tên tác giả. Người ta chỉ biết rằng hệ thống kinh Bát Nhã Ba-La-Mật phát xuất từ miền Nam Ấn trước Công Nguyên.

Trong lịch sử Phật giáo có một sự kiện có thể cho chúng ta một chút suy đoán về nguồn gốc của hệ Bát Nhã Ba-La-Mật.

Khoảng 236 năm, sau khi Đức Phật nhập diệt, nước Ấn Độ dưới sự cai trị của vua A-Dục, là vị vua rất sùng mộ đạo Phật, đã hỗ trợ rất nhiều cho sự phát triển Phật giáo cũng như nhiều tôn giáo khác.

Vào thời đó có một vị cao tăng là ngài Đại Thiên trụ trì tại một ngôi chùa lớn ở kinh đô rất giỏi Phật pháp. Một lần trong buổi thuyết pháp có đông đảo người tham dự, ngài Đại Thiên đã tuyên bố: "Những ai thuyết pháp giỏi đúng với chân ý Đức Phật thì người đó có quyền viết kinh!".  Lời công bố này được một số người trẻ tán thành, nhưng cũng có nhiều người phản đối. Rốt cuộc vấn đề này không được giải quyết ổn thoả, ngay cả vua A-Dục và Hoàng Hậu là những người quyền lực nhất nước, dù hết sức ủng hộ ngài Đại Thiên cũng bó tay, không thể giải quyết được vấn đề trọng đại này. Sau đó, ngài Đại Thiên cùng đệ tử xuống miền Nam Ấn giáo hoá. Đó là lý do tại sao hệ thống kinh Bát Nhã Ba-La-Mật xuất phát từ miền Nam Ấn. Hệ thống kinh này trải qua nhiều thời đại, kéo dài mấy trăm năm, các vị Tổ đã lần lượt sáng tác các bộ kinh được xếp vào hệ thống kinh Bát Nhã nhưng không có bộ kinh nào đề tên tác giả.

Nhìn chung hệ thống kinh Bát Nhã đề cao tư tưởng KHÔNG (Trống rỗng)) và CHÂN NHƯ (là tính tuyệt đối cuối cùng của vạn sự. ... Tri kiến được Chân như tức Giác ngộ, vượt khỏi thế giới nhị nguyên, chứng được cái nhất thể của khách thể và chủ thể) Các vị  Tổ lấy TÍNH KHÔNG và CHÂN NHƯ làm nền tảng để tu tập, tiến đến thể nhập KHÔNG và thể nhập CHÂN NHƯ. Ngoài ra trong hệ thống kinh Bát Nhã cũng đề cao một chủ đề nữa là HUYỄN (Giả mà như thật). Tựu trung ba chủ đề CHÂN NHƯ, KHÔNG và HUYỄN xem như là 3 gốc độ của Trí Tuệ Bát Nhã nhìn về hiện tượng thế gian trong đó có con người.

 Thầy Thiền Chủ đã xem 3 quan điểm Chân Như, Không và Huyễn như là thế chân vạc vững chắc để làm nền tảng cho Trí Tuệ Bát Nhã. Như vậy muốn khai mở Trí Tuệ tâm linh siêu vượt của mọi người, chúng ta cần thông suốt 3 chân lý đó. Thể nhập và sống phù hợp với 3 quan điểm Chân Như, Không và Huyễn thì chúng ta sẽ hết khổ.

Trong hệ thống kinh Bát Nhã, tác phẩm cuối cùng được dịch ra là "Bát Nhã Tâm Kinh" hay là "Bát Nhã Ba-La-Mật Đa Tâm Kinh". Đó là dịch theo âm Hán Việt. Bài này gồm 262 chữ, là bài kinh ngắn nhất trong hệ thống kinh Bát Nhã Ba-La-Mật.

GIẢI NGHĨA NỘI DUNG BÁT NHÃ TÂM KINH

Bài Bát Nhã Tâm Kinh được nhiều vị tôn đức dịch ra tiếng Việt. Nhưng bài viết này, Thầy Thiền Chủ và Ni Sư Triệt Như giảng từ bản kinh phổ thông Hán Việt.

- Maha: Đại, lớn, nói đến trí tuệ rộng lớn sâu sắc.

- Bát Nhã: Nghĩa là trí tuệ đầy đủ. Người Trung Hoa phiên âm ra là Bát Nhã, nghĩa là trí tuệ sâu sắc hơn trí thông thường. Trí tuệ này chỉ có ở nơi người tu tập kinh nghiệm định sâu, và qua sự kích thích của phản xạ thụ động tự phát, chứ không qua sự học hỏi thế gian cóp nhặt của người khác. Đây là trí tuệ tâm linh, trí tuệ siêu vượt, là tuệ giác, là Phật tính hay là tiềm năng giác ngộ có sẵn trong mỗi người chúng ta.

- Ba-La-Mật: Nghĩa là "đã tới bờ bên kia". Ba-La-Mật ra ngoài chân lý quy ước, nó thuộc chân lý tối hậu. Chúng ta hiểu một cách tổng quát đó là: Sự kiện toàn của Trí Tuệ, Trí Tuệ hoàn hảo, Trí Tuệ cao nhất, gọi là Bát Nhã Ba-La-Mật.

 - Kinh: Lời nói của thánh nhân. Lời dạy của Đức Phật thường gọi là Kinh. Kinh dạy chúng ta tu tập để thoát khổ, giác ngộ và giải thoát. Lời Tổ chú thích về Kinh thường gọi là Luận. Sau này, các vị Tổ viết ra những bộ Luận vẫn ghi là Kinh. Ví dụ như: Ngài Thần Hội, đệ tử trẻ nhất của ngài Lục Tổ Tuệ Năng ghi lại những lời dạy của Lục Tổ đề là "Kinh Pháp Bảo Đàn". Cũng như những bộ Kinh của hệ Phát Triển như: Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Duy Ma Cật, Kinh Kim Cang v.v... cũng đề là Kinh, nhưng thực ra chỉ là những bộ Luận thôi!

- Tâm Kinh:  Hiểu theo hữu vi pháp, thì tâm đây là trái tim, trái tim giới hạn sự sống chết của con người, trái tim động là sống, không động là chết. Trái tim trong đạo Phật thường được thấy qua các từ ngữ như "mạng mạch" là sinh mạng của giáo pháp nhà Phật. Nói về chân đế, Bát Nhã Tâm Kinh là trái tim sống hoài của đạo Phật, có nghĩa là Trí Tuệ siêu việt. Nói về tục đế, Bát Nhã Tâm Kinh là trái tim của giáo pháp.

Nghĩa chung: "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" là Kinh quan trọng nói về Trí Tuệ thâm sâu đã vượt thoát đến giác ngộ.

"Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba-La-Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách"

- Quán Tự Tại Bồ Tát: Danh hiệu Đức Quán Thế Âm. Bồ Tát (người tu hướng tới đạt quả vị Phật). Quán Thế Âm theo niềm tin là người Tu đã tu tập lắng Nghe, và ngài đã nghe tiếng sóng biển tức Hải Triều Âm, vào được định và sáng đạo. Đức Quán Âm sống với hạnh từ bi, nguyện đời đời độ chúng sinh không thành Phật. Đây là nhân vật hư cấu, nghĩa là trong sử liệu ngài không có thật như Đức Phật Thích Ca và các đệ tử của ngài. Truy nguồn gốc, ngài là nam thần trong đạo Bà-La-Môn. Khi lan truyền đến Trung Hoa, Việt Nam, ngài trở thành người nữ, là vị Bồ Tát có nhiều hoá thân trong niềm tin dân gian thuộc về tín ngưỡng tôn giáo.

Trong Phật học Bồ Tát là danh xưng gọi những người tu tập, có mục tiêu muốn đạt tới quả vị Phật. Ở trong kinh Đức Phật cũng tự xưng mình là Bồ Tát khi ngài đang tu tập khổ hạnh.

Về sau, danh xưng Bồ Tát đòi hỏi 2 giai đoạn: Tự giác - Giác tha,  hay Tự độ - Độ tha, nghĩa là chính mình phải giác ngộ sau đó phát tâm giúp đỡ người khác, cho nên con đường tu tập và giáo hoá chúng sinh gọi là BồTát đạo.

- Hành thâm: Thực hành ở trong định, sâu sắc trong Trí tuệ kiện toàn.

- Bát Nhã Ba-La-Mật: Là Trí Tuệ đã tới bờ bên kia, nghĩa là ngài đã đi qua hết chặng đường tu tập, bây giờ đã tới mức cuối cùng, nghĩa là đã qua tới bờ giải thoát, và kết quả là ngài đạt Trí Tuệ siêu vượt, nhận ra bản thể của Ngũ uẩn là trống không. 

- Giai không: Giai là tất cả. Giai không là tất cả đều trống không.

- Độ: Con đò đưa mình qua sông, cứu vớt, giúp đỡ...

- Ách: Là cái gông buộc ngang đầu con bò, những đau khổ đè nặng lên mình gọi là khổ ách.

- Nhất thiết: Tất cả

- Chiếu kiến: Kiến là thấy. Chiếu kiến là cái thấy soi sáng thông hiểu vấn đề. Cái thấy này không phải là thấy bằng mắt thường, mà thấy bằng trí tuệ, nhận thức rõ ràng Ngũ uẩn đều là trống không, tức là trong Nhận thức cô đọng, Bồ Tát nhận biết rõ ràng bản thể của năm nhóm này là trống không. Con người chỉ là sự kết hợp của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức (5 uẩn). Mỗi nhóm thay đổi luôn luôn.

Khi phân tích con người do Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức kết hợp mà thành. Mỗi khối đó không thường hằng, không có thực chất cố định nên gọi là Vô ngã. Trong bài kinh Vô Ngã Tướng, Đức Phật giảng Vô ngã, đưa ra ba đặc điểm của thế gian là Vô Thường, Khổ, Vô ngã gọi chung là Tam Pháp Ấn.

Về sau các vị Tổ lập thêm Vô Thường, Khổ, Vô ngã, Không gọi là Tứ Pháp Ấn. "Không" trong Tứ Pháp Ấn dùng để khai triển về cái Ta, đó là: Không Ta, không cái của Ta, không tự ngã của Ta.

Sau cùng các vị Tổ rút gọn lại chỉ còn một pháp ấn gọi là Nhất Pháp Ấn hay là Nhất Tướng Pháp Ấn là KHÔNG. "Không" này nói đến TÍNH KHÔNG, nói đến trống không của con người và hiện tượng thế gian. "Không" này bao trùm khắp pháp giới.

Từ bài kinh Vô Ngã Tướng khai triển bản thể con người là trống không.

- Ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách: Con người hay Ngũ uẩn gồm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc thuộc phần vật chất, nó bao gồm cơ thể và giác quan. Cơ thể con người gồm đất, nước, gió, lửa, tức tứ đại, nó hình thành nên cơ thể vật chất của con người. Do đó, cơ thể cũng gồm nhiều yếu tố kết hợp lại thành, mà đất, nước, gió, lửa này không phải là nguyên tố thường hằng bất biến. Đất cũng do nhiều yếu tố hợp lại thành đất. Nước, gió, lửa cũng vậy. Mỗi thứ hình thành là do nhiều điều kiện.

Giác quan con người thì có 5 giác quan: Mắt, tai, mũi, lưỡi, da. Ngoài ra con người còn có thêm một năng lực để tiếp xúc với hiện tượng thế gian, đó là Ý, nên gọi chung là lục căn.

Ý không thuộc vật chất, nhưng Ý cũng hình thành nên vọng tâm của con người. Khi lục căn tiếp xúc với lục trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, thì có Xúc, tức là lục căn tiếp xúc với hiện tượng thế gian thì có Xúc.

Tại sao "Ngũ uẩn giai không" ? Tại vì Ngũ uẩn tức  5 nhóm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức tất cả thay đổi luôn luôn tuỳ theo nhân, tuỳ theo duyên kết hợp nên nó, thành thử nó không có cái gì là cố định trong mỗi nhóm, không có gì thường hằng trong mỗi nhóm, cho nên bản thể của năm nhóm này là trống không. Đó là ý nghĩa của "Ngũ uẩn giai không".

Khi kết luận "Ngũ uẩn giai không", không có nghĩa là phủ nhận không có Ngũ uẩn. Cái nhìn vạn vật trống không là cái nhìn của Trung đạo. Trung đạo tức là không rơi vào hai cực đoan: Có và Không.

Nhắc lại ý nghĩa Trung đạo của "Không", chúng ta phải hiểu nó không có nghĩa phủ định. Và chữ "Không" ở chỗ "Ngũ uẩn giai không" là chữ "Không" trong tiếng Hán Việt có nghĩa là "trống không" chứ không phải chữ "Không" trong ý nghĩa tiếng Việt là "không có".

Ban đầu Đức Phật chọn con đường Trung đạo để tu tập, là không rơi vào cực đoan của lợi dưỡng, hay rơi vào cực đoan của khổ hạnh thái quá. Cực đoan của lợi dưỡng là nếp sống hưởng thụ vật chất xa hoa trong thời kỳ còn là Thái Tử sống trong hoàng cung. Còn cực đoan của khổ hạnh là trong thời gian Đức Phật tu khổ hạnh khốc liệt 6 năm ở trong rừng. Cả hai cực đoan này không đưa tới giác ngộ giải thoát, cho nên Đức Phật chủ trương Trung đạo, là giữ gìn sức khoẻ, ăn uống vừa đủ để có sức khoẻ mà tu tập. Đó là ý nghĩa Trung đạo trong bước đầu.

Về sau Trung đạo có ý nghĩa là không rơi vào hai cực đoan: Có và Không. "Có" tức là có mặt, có hiện hữu, thuật ngữ gọi là "Thường kiến". Còn "Không" là phủ nhận hoàn toàn không có hiện hữu, thuật ngữ gọi là "Đoạn kiến".

Chủ trương "Thường kiến" thì cho rằng mọi vật hay con người, hay thế gian này là thường hằng bất diệt, tức là trong con người có cái Ngã trường cửu, còn gọi là linh hồn trường cửu. Còn chủ trương "Đoạn kiến" thì cho rằng thế gian này chấm dứt là hết,  con người chết là hết, là xong, không có luân hồi sinh tử, không có tương quan nhân quả, không có nghiệp báo.

Đó là hai cái nhìn Đức Phật cho là sai lầm. Đức Phật chủ trương KHÔNG hay TÍNH KHÔNG, TÍNH HUYỄN là nó nằm trong cái nhìn Trung đạo. Ngài không phủ nhận hoàn toàn về sự hiện hữu của con người hay là không có hiện tượng thế gian ở trên cõi đời này. Ngài không nói con người  thường hằng hay là thế gian này thường hằng, mà Ngài nói rằng hiện tượng thế gian cũng như con người có mặt, nhưng sự có mặt đó thay đổi luôn luôn, do đó bản thể của hiện tượng thế gian và con người là trống không. Cho nên quan điểm về Tính Không nằm trong Trung đạo không rơi vào hai cực đoan của triết thuyết thời bấy giờ.

Huyễn cũng thế. Huyễn ở đây là ám chỉ con người hay hiện tượng thế gian có, vì với mắt thường chúng ta đều thấy, nhưng những cái có đó là tạm bợ, giả dối, có đó rồi mất đó, nó như mộng, như ảo, như giọt sương ban mai, như điện chớp rồi tắt, cho nên nói Huyễn Có chứ không Thực Có. Do đó Huyễn cũng là Trung đạo.

Trở lại bản thể của con người là trống không vì do nhiều duyên, nhiều nhân mà thành, khi nhân duyên tan rã, nó phù hợp với những cái khác kết hợp lại thành con người khác, thành thử nó luôn luôn di chuyển, lưu động, luôn luôn chuyển hoá. Nhưng tại sao khi nhận ra con người là Vô ngã, là Vô thường, là trống không thì không còn đau khổ nữa? "Ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách". Khi chúng ta nghĩ có cái ngã thật nên mới khổ. Trong bài kinh Tứ Diệu Đế, Đức Phật kể 13 cái khổ. Khổ thứ 13 là chấp thủ Ngũ uẩn là thật,  từ đó mới sinh ra 12 thứ khổ khác. Cái khổ thứ 13 bao gồm những cái khổ của cuộc đời. Con người khổ không ra ngoài 13 nguyên nhân đó.

Chấp ngã là thật, là thường hằng cũng là lậu hoặc. Nguồn gốc khổ đau, luân hồi sinh tử là lậu hoặc. Chúng ta biết lậu hoặc có 4 nhóm: Vô minh lậu, dục lậu, hữu lậu, kiến lậu.  Bốn cái lậu này có liên quan đến ngã. Vì chấp ngã nên dục lậu gồm "tài, danh, sắc, thực, thuỳ" đua nhau phục vụ cho cái ngã.  Khi sống mà muốn sống mãi thì đó là hữu lậu. Chỉ cần có cái Ta thật thì nó bao gồm 4 lậu kia. Năm anh em Kiều Trần Như khi được nghe Đức Phật giảng bài kinh Vô Ngã Tướng sạch hết lậu hoặc vì không còn chấp ngã nữa nên đắc quả A-La-Hán.

Tóm lại, nguyên do đau khổ là do chúng ta thấy thân tâm chúng ta có thật. Muốn nắm chặt những gì đang có và muốn sẽ có thêm những cái khác. Khi biết nguyên nhân khổ của con người, Đức Phật cho phương thuốc để trị. Phương thuốc để trị bệnh khổ là Bát Chánh Đạo. Đầu tiên của Bát Chánh Đạo là Chánh Kiến. Đó là cái nhìn đúng. Nhưng mà bản thể của cái nhìn đúng cũng là trống không. Cái Ta thật sự là trống không, cái Ta là Huyễn có, cái Ta là giả danh. Có mà thay đổi không trường tồn, không có thật, bởi cái Ta chỉ là sự kết hợp của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức; mà Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức thay đổi luôn luôn từng phút từng giây không có gì cố định để gọi là cái Ta thường hằng. Nhận ra điều này và chấp nhận điều này thì đó là Chánh kiến hay Chánh trí. Hiểu rõ điều đó rồi thì còn cái gì để khổ nữa!

Tóm lại, mọi vật hay mọi sự kiện trên đời, nói chung là hiện tượng thế gian đều trống không, cho nên những lời nói nặng nhẹ hay từ ái, những cử chỉ nhẹ nhàng, lịch sự hay thô bạo, bản thể của nó cũng trống không. Ý nghĩa của chủ đề KHÔNG là ở chỗ đó! Nhận ra rồi, thì không còn dính mắc vào những thăng trầm của cuộc đời. Cho nên trong đoạn thứ nhất của Bát Nhã Tâm Kinh nêu lên một phương thức tu tập hay một cái nhìn Chánh kiến. Đó là phải nhận ra TÍNH KHÔNG của Ngũ uẩn, cũng như tất cả hiện tượng thế gian đều trống không thì không còn cái gì đau khổ nữa!

- Xá Lợi Tử: Sari là Xá Lợi. Putta là Phất, cũng có nghĩa là con, nên  chúng ta thấy trong kinh có lúc gọi ngài là Xá Lợi Tử, có khi gọi ngài là Xá Lợi Phất. Ngài là đệ tử lớn trong số 10 vị đệ tử của Đức Phật (một trong 10 vị A LA HÁN. A LA HÁN là là "người xứng đáng" hoặc là "người hoàn hảo" theo Phật giáo Nguyên thủy, đã đạt tới Niết-bàn, thoát khỏi hoàn toàn Luân hồi. Tuy nhiên theo các giáo phái khác trong Phật giáo, thì thuật ngữ này để chỉ những người đã tiến rất sâu trên con đường giác ngộ, cũng thoát được sinh tử luân hồi nhưng chưa hoàn toàn viên mãn, nói cách khác là chưa đạt Phật quả.

- Sắc bất dị không, không bất dị sắc: Hiểu theo Khoa học, sắc là vật chất, chúng ta tưởng là nó cứng cỏi, vững bền, nhưng thực ra nó có là do nhiều nguyên tử kết hợp, chia chẻ ra... thì phần tử nhỏ nhất của vật chất là quark, mà các nhà Khoa học bây giờ nhìn thấy dưới kính hiển vi. Quark chỉ là cái khoảng trống không mà thôi! Hiểu theo giáo lý nhà Phật "Sắc bất dị không, không bất dị sắc" có nghĩa là vật chất không khác với không, mà không cũng không khác với vật chất, vì bản thể của vật chất là trống không.

- Sắc tức thị không, không tức thị sắc: Bằng trí tuệ chúng ta nhìn thấy vật chất này bản thể của nó trống không và trống không này chính là vật chất. Từ sự nhìn thấy này chúng ta có thể hiểu: "Thân con người bản thể trống không và sự trống không này chính là con người".

Từ thế giới vật chất, chúng ta phải nhận ra bản thể của nó trống không, nhưng chính từ trạng thái trống không đó, nó mới kết hợp lại để trở thành thế giới vật chất "Không tức thị sắc". Ở mặt này, chúng ta biết KHÔNG nó có một năng lực. Đó là năng lực biến dịch hay là quy luật biến dịch, nó thay đổi luôn luôn. Quy luật này giải thích sự biến dịch chuyển hoá trong vũ trụ đồng thời giải thích con người từ đâu mà có, từ nhân từ duyên, vũ trụ cũng thế. Nó có mặt rồi biến đổi theo nhân duyên để trở thành cái khác theo nhân duyên khác. Như vậy dòng sống của con người hay vũ trụ không có nhân đầu tiên và quả cuối cùng. Dòng sống đó vô thuỷ vô chung.

- Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị: Khi nói bản thể của sắc trống không, thì bản thể của bốn khối: Thọ (cảm giác), tưởng (tri giác), hành (ý chí), thức (ý thức), cũng trống không.

Do đó, kết luận bản thể của Ngũ uẩn tức 5 khối đều trống không. Nhưng không phải Ngũ uẩn hoàn toàn không có, nó có nhưng mà vì nó di động, biến dịch luôn nên gọi là Huyễn Có. 

Hai câu đầu trong bài kinh nói về Tính Không. Khi chúng ta nhận ra bản thể trống không của con người và vũ trụ thì chúng ta sẽ không còn dính mắc, nắm chặt nữa thì đó là Trí Tuệ Ba-La-Mật. Ở đây dùng chữ "chiếu kiến" không có nghĩa là suy gẫm, suy tư hay là quán chiếu, mà là cái thấy sáng tỏ do Trí tuệ đã nhận ra bằng Nhận Thức Không Lời cái Tính Không của con người và vũ trụ, vì đã thực hành thâm sâu Bát Nhã Ba-La-Mật nên không còn dùng lời nữa. Ngay đây, hành giả đã nhận ra bằng Nhận Thức Không Lời, tức đã thể nhập vào KHÔNG rồi, nên nhận ra Ngũ uẩn là không thì tất cả những điều đau khổ, những chướng ngại ở trên đời thực ra bản thể của chúng cũng là không. Chỗ này, nếu thực hành Thiền bằng kỹ thuật "Không Nói" của dòng Thiền Tính Không, thì hành giả đang ở trong trạng thái "Nhận Thức Biết Không Nói" tức là trong trạng thái Nhận Thức Biết Không Lời, kinh nghiệm "thân đau mà tâm không đau" nghĩa là đã vượt qua mọi khổ ách.

- Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm: Phần ở trên bàn về bản thể, về cái tính của hiện tượng thế gian. Bây giờ nói đến cái tướng. Tướng là những cái gì biểu lộ ra bên ngoài gọi là tướng. Câu "thị chư pháp không tướng" là thấy tất cả tướng bề ngoài của các pháp là trống không. Khi nói tới tướng là nói đến Chân Như. Chữ tướng là dấu hiệu bề ngoài, giác quan có thể nhận ra.

Câu này chuyển qua khía cạnh khác của con người và vũ trụ, đó là nói đến cái tướng trống không, tức là nói đến Chân Như. Muốn nhận ra Chân Như phải nhận ra bằng Nhận thức không lời. Chỗ này là Atakkàvacara. Tạm dùng ngôn ngữ tương đối để diễn tả chỗ Atakkàvacara. Sau khi Đức Phật thành đạo không muốn đi giảng pháp là vì chỗ ngài chứng ngộ là chỗ không thể dùng lời để giảng giải. Chỗ đó là chỗ tự mình dụng công và nhận ra mà thôi. Khi Đức Phật quyết định đi giáo hoá, lúc đầu ngài tạm dùng lời để đi tới Tính Không và Chân Như là chỗ không lời.

Định nghĩa đầu tiên của Chân Như là "cái bề ngoài khách quan của hiện tượng thế gian". Bề ngoài là tướng. Khách quan là không có những chủ quan. Chủ quan là những cái mà người đời gán ghép lên cho nó, như tên tuổi, màu sắc, đẹp xấu v.v... gọi là tướng thế gian. Lấy hết những cái chủ quan đó ra, còn lại "cái khách quan" là cái của chính nó, là tướng thật của nó. Nhưng mà tướng thật của nó là không có tướng gì hết, nên mới có thành ngữ "Thực Tướng Vô Tướng" để chỉ Chân Như, đó là cái "khách quan tính tuyệt đối" của hiện tượng thế gian, là Chân Như.

"Thị chư pháp không tướng" là nhìn thấy tất cả hiện tượng thế gian, tướng của nó là trống không, ý muốn nói "thật tướng của nó là vô tướng", trạng thái này là trạng thái Chân Như hay là trạng thái Thật tướng Vô tướng, tạm gọi là trạng thái Như vậy!

Khi nào "có tướng" thì mới có như thế này, như thế khác, thay đổi luôn luôn, gọi là có tướng sinh có tướng diệt.  Còn "không tướng" trong câu "thị chư pháp không tướng" nghĩa là thật tướng của nó là KHÔNG. Không này là "trống không". Mà nói "cái tướng trống không" thì lại có nghĩa là "không có tướng", tức là "cái tướng của nó trống không". Khi nói đến tướng là nói Chân Như chứ không phải nói Tính Không ở trên nữa! 

Trong trạng thái Chân Như không có cái gì trong đó hết, nó khách quan, không tên tuổi, không dấu vết và nó yên lặng bất động, cho nên nó không có tướng sinh tướng diệt, nó cũng không có tướng dơ, tướng sạch. Nó cũng không có tăng lên cũng không có giảm đi.

- Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp;...... : Chúng ta nhìn thấy biết rằng trong cái chỗ trống không đó, tức là trạng thái Chân Như không có chứa đựng cái gì hết. Nó chỉ Như vậy và Như vậy thôi! Nó là trạng thái khách quan của hiện tượng thế gian, chứ nó không phải là hiện tượng thế gian, cho nên ở đây mới nói phủ định là không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có hành, không có thức, không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tức là giác quan không có trong đó cho nên không có nhãn giới, không có ý thức giới, không có vô minh cũng không có chấm dứt vô minh, không có lão tử cũng không có chấm dứt lão tử, không có cả Tứ Diệu Đế, Bát Chánh đạo, không có Trí cũng không có đắc... nghĩa là trong Chân Như  không có cái gì hết, nó chỉ Như vậy là Như vậy thôi!

Còn như nói con người có thân có già có chết, là dùng lời ở trong quy ước tục đế. Khi ở trong Tâm Như, không còn dùng lời, không định danh đối tượng, thì không nói cái này già, cái kia chết. Già hay chết cũng có cái Chân Như của nó. Tâm bất động thấy như vậy, mình thoát khổ, mình sống thong dong trong cuộc đời, đạt được trạng thái Niết Bàn là trạng thái tâm vắng lặng tịch diệt, là trạng thái Tâm Như.

 Như vậy không có cả Tứ Diệu đế: Khổ, tập, diệt, đạo. Tứ Diệu Đế là do Đức Phật bày ra làm phương tiện để hướng dẫn con người, đó là Tục đế Bát Nhã. Đức Phật tạm đứng trong thế gian giảng Tứ Diệu Đế, vì con người có cảm thọ, có khổ, phải tu tập để đi đến Chánh định là Chân đế Bát Nhã.

- Vô Vô Minh diệc vô Vô Minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận: Là nói tới 12 nhân duyên. Vô minh là nhân thứ nhất, nhân cuối cùng là Lão tử. Nhưng đây là một vòng tròn khép kín nên cũng không nói mắt xích nào là đầu, mắt xích nào là cuối. Cả 12 nhân duyên này cũng nói theo cái nhìn tục đế, tức là có Vô Minh thật, nên khởi Hành thật, Hành thật nên khởi Thức thật, Thức thật mới có Danh Sắc v.v... Đó là cái nhìn tất cả đều thật là tại vì con người có cảm thọ qua giác quan nên thấy là thật. Đây là chỗ đứng của Tục đế Bát Nhã.

Bây giờ trong Chân đế Bát Nhã, nhất là ở trong trạng thái Chân Như thì không có 12 nhân duyên, cho nên 12 nhân duyên cũng là pháp phương tiện, Đức Phật bày ra để dẫn dắt chúng sinh tu, chứ bản thể của mỗi mắt xích liên kết với nhau đều là trống không, đều là Huyễn Có và nó có cái Chân Như của nó. Như vậy cuối cùng, cũng không có trí, mà cũng không có đắc.

- Vô khổ, tập, diệt, đạo: Cũng không có Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế có là đặt trên quan điểm thế gian, đứng trên cái nhìn giống như cái nhìn của người thế gian, cho thấy pháp của  Đức Phật dạy không  xa rời thực tế. Ngài đứng trên chỗ đứng của người đời để mà giảng dạy, nên Phật pháp rất là thực tiễn không mông lung mơ hồ.

Chân lý đầu tiên nói cuộc đời là biển khổ, đó là cái nhìn theo Tục đế Bát Nhã, là tại vì con người có cảm thọ thật, nên thấy mình khổ thật, cho nên ngài đồng ý với mọi người rằng là: "phải rồi có khổ" và ngài kể ra 13 cái khổ. Đây là cái nhìn Tục đế Bát Nhã có sức thuyết phục của Đức Phật, ngài không giảng dạy những gì xa xôi,  mà nói thẳng đến cuộc sống thiết thực của con người là Khổ. Có khổ vì có cảm thọ.

Tới chân lý thứ hai là Tập đế, tìm hiểu nguyên nhân sâu xa vì đâu mà có tới 13 loại khổ? Đó là vì khát ái từ cái Ngã ý thức mà sinh ra, như vậy là nói có thật khát ái, có thật lậu hoặc. Đây cũng còn là cái nhìn của Tục đế Bát Nhã.

Qua tới chân lý thứ ba của Tứ Diệu Đế mới nằm trong Chân Đế Bát Nhã. Bản thể của Khổ là trống không thì bây giờ mới tu tập Bát Chánh đạo để thoát khổ. Hai đế trên khổ là có thật, có thật tức thường hằng bất biến, có nghĩa là cứng chắc kiên cố. Qua đế thứ ba thì nỗi khổ nào cũng do nhân do duyên hợp hết. Khi nhận ra duyên hợp tức bản thể trống không thì thuộc về mặt Chân đế, Đức Phật đưa ra bài thuốc gồm 8 vị, đó là Bát chánh đạo tu tập để hết khổ.

Trở lại bài Bát Nhã Tâm Kinh, hoàn toàn nói về Chân đế Bát Nhã không có nói Tục đế thì ngay cả khổ, tập, diệt, đạo cũng không có, bởi vì bản thể của nó trống không. Những nỗi khổ là do duyên sinh, do quy luật nhân quả, nó có trong cái nhìn Tục đế, nhưng trong cái nhìn giác ngộ thì nó không thật có mà là Huyễn Có vì nó là trống không. Cho nên cả 4 chân lý khổ, tập, diệt, đạo cũng không thật sự có trong cõi đời này, nó là phương tiện để dắt dẫn con người đi tới thoát khổ thôi! Vì thế ở trong trạng thái Chân Như, nó không có những pháp phương tiện này.

- Vô trí diệc vô đắc: Trí là trí tuệ,  cũng không có đạt được cái gì. Nếu nói đạt được cái gì là còn nằm trong Tục đế. Bởi vì khi nói có cái Trí đạt, tức là chưa đạt, là vì còn Ta và đối tượng, còn năng sở, còn cái Ngã, thì làm gì có đạt. Trong kinh có ghi lời Đức Phật: "Nếu ai nói Như Lai đạt quả Vô Thượng Bồ Đề là phỉ báng Như Lai", ở chỗ này nếu có quả vị thật để mình chứng đạt thì có nghĩa là mình chưa chứng đạt, mà nếu nói không chứng đạt thì cũng là sai. Tại sao? Nói ra lời là rơi vào quy ước rồi! Mình nói có ông Phật thật là sai chắc rồi, mà mình phủ nhận không có ông Phật cũng sai. Cho nên Đức Phật nói Trung đạo, mà Trung đạo bây giờ chỉ Thầm Nhận Biết, là Nhận Thức Không Lời thôi, mở miệng nói ra lời là rơi vào quy ước, rơi vào Tục đế, rơi vào nhị nguyên liền. Phần này chỉ khai triển những sắc thái của Chân Như thôi.

Trong kinh dùng chữ "bất" và chữ "vô", nó có nghĩa là phủ định. Tại sao lại phủ định? Nếu không nói thì không ai hiểu, mà hễ dùng lời là quy ước, cho nên phải dùng phủ định để dẫn dắt tới chỗ không có gì trong Chân Như.

Thí dụ: Tâm Như là chỗ không lời, Atakkàvacara, nhưng nếu không nói ra ai biết mình chứng ngộ chỗ này? Làm sao người ta biết chỗ này phát huy Trí tuệ, thành ra phải nói, mà lời thì nằm ở bên ngoài không có ở bên trong. Bài kinh này các vị Tổ dùng lời để giảng chỗ không lời. Chỗ nào không có gì hết thì dùng chữ "bất", dùng chữ "vô" nghĩa là phủ định. Như không tăng không giảm, không cấu không tịnh, không già, không chết v.v... tức là không có gì hết. Đó là phải tạm dùng lời, vì lời cho nên phải phủ định để trừ ra những phủ định đó, cái còn lại là Chân Như, là nó đó. Chỉ là phương tiện thôi, cho nên "lời này" cũng giống như "ngón tay" chỉ "mặt trăng" hay "mặt trời". Phương tiện là lời nói, chữ viết, kinh điển... không phải là nó. Nó ở đây là kho báu, là mặt trời trí tuệ của mình, nó phát triển tới vô lượng vô biên. Vì nó không tên nên ai đặt tên gì thì là tên đó. Đức Phật gọi là Tathatà, là cái Như vậy. Chúng ta cũng tạm gọi Như vậy, Như thế!

Nói Vô Trí là không có trí tuệ cũng không đúng, mà nói có cũng không đúng. Có trí tuệ thì mới gọi là kho báu, là viên ngọc như ý, tức là lúc đó hoàn toàn an vui không còn khổ nữa và mình có những phương tiện thiện xảo để giúp đời, nhưng mà khi nói Có là đã dính mắc, đã rơi vào cái nhìn của thế gian. Mà nói không thì cũng không đúng.

Kinh nói "vô đắc vô trí" là không có đạt gì. Mà thực sự có đạt gì không? Hễ dùng phương tiện thì nói là có đạt, nhưng khi mình hoàn toàn không khởi niệm gì hết thì mình không vướng vô 2 cực đoan Có và Không, mà ở trong Trung đạo.

- Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề-tát-đoả y Bát Nhã Ba-La-Mật Đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn: Tâm có ngăn ngại là tâm còn có ranh giới vì còn cái Ngã, còn giới hạn hay là khi còn có Ý thức thì còn phân biệt còn ngăn ngại. Còn bây giờ tâm Bồ Tát hoàn toàn ở chỗ Như Như bất động nên không còn ngăn ngại chướng ngại gì hết. Đây là một người vẫn còn sống trong cuộc đời cũng gặp nhiều cảnh trái ngang không vừa ý, nhưng đối với người ở trong Tâm Như rồi thì tất cả đều thông suốt đều êm xuôi, không có gì ngăn ngại bước đường tu tập của họ. 

Tâm không còn chướng ngại nên không còn sợ hãi. Đối với người đời khó có ai nói là mình  không sợ gì hết. Thực sự, chúng ta sợ đủ thứ, trong đó sợ chết là cái sợ kinh khủng nhất. Bây giờ tu tập rồi mình cũng bớt lo, bớt sợ, bằng cách phải tỉnh thức, phải có Trí tuệ hiểu tất cả bản thể đều trống không. Khi mình không tác ý, thì mình không nói đó là chết, đó là sinh, đó là già. Khi mình tác ý ra, mình gán cho cái tên, từ cái tên đó mình mới sợ.

Bằng Trí tuệ, cái gì mình cũng thấy đó là quy luật khách quan, muốn hay không đều phải chịu, và khi mình hiểu bằng Trí tuệ thì mình không khổ, không sợ, thì đó là mình đã thoát ra khỏi quy luật sinh tử rồi. Khi không còn sợ hãi nữa thì "xa rời mộng tưởng", mình sợ là tại vì mình mộng tưởng, tưởng tượng thôi. Có nhiều khi nỗi sợ của mình không có thật mà mình cứ tưởng ra hay vẽ ra để mình sợ hãi. Nên khi tu tập có Trí tuệ mình sẽ vượt qua cái sợ tức là Vô uý. Khi không tác ý, tưởng tượng vẽ vời hay tác ý về những hiện tượng thế gian, lúc đó không còn xử dụng tâm thế gian nữa mà mình đang ở chỗ Tâm Như rồi thì gọi là Niết Bàn.

Cứu cánh là ở chỗ cuối cùng mình chứng nghiệm được trạng thái tâm vắng lặng, tịch diệt gọi là Niết Bàn, cho nên trạng thái Niết Bàn chính là trạng thái Tâm Như, Như Như bất động. Khi còn sống gọi là Hữu Dư Y Niết bàn. Khi ra đi không còn thân nữa thì gọi là Vô Dư Y Niết Bàn. Như vậy mình hiểu Niết Bàn không phải là nơi chốn nào xa xôi, nó là trạng thái Tâm Như của mình thôi.

- Tam thế chư Phật, y Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-Bồ-Đề: A-nậu-đa-la Tam-Miệu Tam-Bồ-Đề  phiên âm từ Anuttara-Sammà-Sambodhi. Có ý nghĩa là Vô Thượng Chánh đẳng giác (sự giác ngộ không ai hơn). Bodhi là Giác ngộ, là Bồ đề, tức là quả vị Phật, mà Đức Phật tự xưng mình là Như Lai (Tathàgata). Do danh xưng Tathàgata, chúng ta biết rằng, muốn đạt được quả vị toàn giác phải đi qua Tâm Như, phải kinh nghiệm Tâm Như, và từ đó các vị Tổ thuộc hệ Phát Triển chủ trương mười phương thế giới chư Phật, đồng thời các vị Phật đều có danh hiệu Như Lai. Qua câu này mình biết phần quan trọng của bài kinh là nói đến Chân Như.

Tam thế chư Phật là Phật đời quá khứ, hiện tại và vị lai đều y theo Trí tuệ siêu vượt này đạt được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.

- Cố tri Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư: Như vậy phải biết Trí tuệ kiện toàn này giống như mật ngôn vĩ đại nhất, sáng suốt nhất, cao thượng nhất, không có cái nào cao hơn. Nó trừ tất cả mọi thứ khổ trong đời, và nó là cái thực tại tối hậu không hư dối.

Như vậy bài Bát Nhã Tâm Kinh muốn nói đến 2 chủ đề lớn là Không và Chân Như. Chủ đề Không đưa đến thoát khổ. Chủ đề Chân Như đưa tới Trí tuệ kiện toàn. Đó là căn cứ nơi sự kiện lịch sử của Đức Phật Thích Ca. Ngài đã chứng ngộ cái Chân Như đó, Trí tuệ phát sinh giải thích tất cả những bí ẩn thầm lặng của con người và vũ trụ.

Còn đoạn cuối cùng với câu thần chú, thật ra cũng không phải là thần chú, đó chỉ là một câu tiếng Pàli bày tỏ niềm vui tán thán của người đã đạt được sự giác ngộ, đã tới được bến bờ bên kia: "Gate Gate paragate parasangate Bodhi svara" , chỉ vì câu này viết sau mấy chữ thần chú...  nên vô tình người ta tưởng nó huyền bí, chứ nó không có ý nghĩa huyền bí, Thầy Thiền Chủ dịch ra là: "Đã tới rồi, đã tới rồi, tới bờ bên kia, bờ Giác ngộ rồi!"

CỐT LÕI CỦA BÁT NHÃ TÂM KINH

Chúng ta đã biết nhân vật Quán Tự Tại Bồ Tát (Bồ tát Quán Thế Âm) là nhân vật huyền thoại. Bài kinh này sáng tác sau thời Đức Phật. Sau khi nghiên cứu tìm hiểu chi tiết từng chữ, từng câu, từng đoạn của bài kinh, chúng ta nắm được cốt lõi bài kinh mà chư Tổ muốn gửi gắm cho hàng hậu học. Còn cấu trúc của bài kinh, các Tổ thuộc hệ Phát Triển mượn danh xưng ngài Xá Lợi Phất để trao truyền. Nếu tính thời gian theo trong Sử ghi lại thì ngài Xá Lợi Phất đã viên tịch trước Đức Phật, mà kinh này thì xuất hiện sau thời Đức Phật. Chúng ta Thầm Nhận Biết tới đây thôi.  Chuyện kế tiếp của chúng ta là rút ra bài học chính của bài kinh này để tu tập mà thôi!

Đọc kinh chúng ta thấy các vị Tổ đã trình bày ngay cái chỗ cuối cùng, ngay nơi đến của người tu tức là trong trạng thái Tâm Không và Tâm Như. Hai trạng thái cùng giống nhau ở chỗ Atakkàvacara, là chỗ không lời.

Khi trình bày về Tính Không, chúng ta nhận thấy văn kinh rất là ngắn gọn, hàm xúc, minh bạch, không mơ hồ. Các Tổ đã đứng trong chỗ đứng của Đức Phật để trình bày cái nhìn Phật Giáo, nói về con người, đó là nói bản thể của con người trống không. Và từ cái nhìn này, sẽ có cách đưa con người thoát ra khỏi mọi khổ đau ở trên đời.

Mục tiêu giảng dạy bài này của chư Tổ nói lên được mục tiêu giảng dạy của Đức Phật khi ngài nói: "Tất cả nước trong đại dương có một vị mặn, đạo của Ta cũng có một vị thôi, đó là vị thoát khổ".  Trong cái nhìn này, Phật giáo không mơ hồ, viễn vông, mà giúp con người ngay khi còn sống chứ không hứa hẹn ở tương lai xa vời. Bài Bát Nhã Tâm Kinh này quả thật xứng đáng để chúng ta học hỏi vì đã nói đúng theo chân ý của Đức Phật là:

- Đưa con người thoát khỏi khổ đau triền miên,  đó là cái nhìn của Tính Không. Cái nhìn Không là cái nhìn Trung đạo của Phật giáo không rơi vào cực đoan Thường kiến và Đoạn kiến. Con người có thật nhưng bản thể trống không, nghĩa là Vô ngã phá tan xiềng xích của Chấp Ngã. Các vị Tổ khai triển Trí tuệ rốt ráo tới bờ bên kia là khai triển tới Chân Như. Chân Như cũng nằm trong Trung đạo, nó cũng tương tự như Không, như chỗ đứng của Huyễn. Đó là thế chân vạc, thế đứng vững chắc để phát huy Trí tuệ kiện toàn, đó là Bát Nhã Ba-La-Mật.

- Khi ở trong trạng thái Tâm Như nhìn ngắm hiện tượng thế gian thấy nó như thế, không diễn tả bằng lời, thì tâm bất động, cảnh bất động khách quan.

- Chủ đề Không được trình bày trước với dụng ý đưa kết quả giúp thoát khổ. Sau đó mới trình bày Chân Như. Đây là phương tiện giúp con người phát huy Trí tuệ kiện toàn, bằng chứng là Đức Phật đã thành đạo qua Chân Như.

- Các chư Phật ba đời cũng qua Chân Như mà phát huy Trí tuệ siêu vượt.

KẾT LUẬN

Con đường tâm linh là một con đường dài thăm thẳm, đi từng bước, đòi hỏi nhiều điều kiện. Chúng ta còn ở "bờ bên này",  điều kiện đầu tiên là tỉnh ngộ để hướng cuộc đời đi vào ngã tâm linh. Tỉnh ngộ là sức mạnh quyết định mục tiêu mình sẽ đến, nhưng phải có quyết tâm để không chùn bước bỏ cuộc trên đường đi. Cả hai điều kiện này cũng chưa đủ, vì ngay như Đức Phật có ý chí sắt đá và tỉnh ngộ  nhưng vẫn bị hai lần thất bại. Cho nên điều kiện thứ ba cần thiết nhất chính là Pháp tu hay Pháp môn tu. Đã chọn Pháp tu rồi, nó dẫn mình đi đâu thì mình phải biết. Không phải đặt chân lên con đường đã chọn là bảo đảm mình đã đi đúng.

Phải lấy bài học của Đức Phật mà rút kinh nghiệm cho bản thân mình. Sau khi Đức Phật thành đạo, ngài nhận ra sự thành đạo của ngài là nhờ Pháp. Pháp đó là Chân Như. Ngài đã đảnh lễ và tôn Pháp là vị Thầy của ngài.

Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật đã dặn dò đệ tử: "Sau khi ta diệt độ, các ông lấy Chánh Pháp làm Thầy". Đức Phật dạy rất nhiều Pháp, Pháp nào cũng đúng,  chúng ta  làm sao biết Pháp nào mà chọn? Ở đây Thầy Thiền Chủ giảng: Chánh Pháp là Chân Như.

Hệ Phát Triển dùng ba chủ đề lớn để đi tới bờ bên kia là: Không, Chân Như và Huyễn

Ở đây, Thầy Thiền Chủ chọn chủ đề Chân Như để hướng dẫn các thiền sinh. Khi thông suốt Chân Như sẽ hiểu rõ Không và Huyễn. Là thiền sinh, chúng ta phải có tâm tỉnh ngộ, có ý chí sắt đá để không thối chuyển. Làm sao có ý chí sắt đá? Đó là mình phải có Tính Nguyên tắc của một thiền sinh. Nguyên tắc sẽ giúp cho chúng ta tiến đến mục tiêu đã chọn. Và điều quan trọng nhất là chọn Pháp tu đúng, thích hợp với căn cơ của mình.

Phật và Tổ đã dạy: "Y Pháp bất y Nhân", không vì tình cảm chủ quan đối với một vị Thầy, mà phải chọn Pháp tu. Trên đường tu, phải học vừa giáo lý vừa thực hành, tức là phải tu Tuệ và tu Định. Phải kinh nghiệm cái Biết Không Lời của Tính Giác để tâm được tĩnh lặng, đồng thời phải thực hành trong 4 oai nghi để đi đến cuối cùng là kinh nghiệm Nhận Thức Biết Không Lời tức đạt được trạng thái Tâm Như.

Để biết mình tu sai hay đúng? Đúng là trên đường tu nếu sức khoẻ yếu hay bệnh tâm thể thì sức khoẻ dần phục hồi. Tâm không còn dính mắc, phiền muộn, mà thanh thản, an vui, bao dung, tha thứ. Về Trí tuệ tâm linh thì nhận ra Tính Giác kiến giải nhiều điều giúp mình hành xử đúng đắn, thành công, và hài hoà trong cuộc sống hằng ngày. Trí tuệ tâm linh sẽ phát huy từ thấp đến cao tuỳ theo sự dụng công của mình.

Đó là những tiến trình tu tập đòi hỏi thời gian, hãy khép mình vào kỷ luật, kỷ luật của thiền sinh là an trú thường xuyên trong Tính Giác, lúc nào cũng có cái Biết Không Lời qua nghe, thấy, xúc chạm. Trong kinh gọi là Chánh Niệm. Thực hành miên mật trong 4 oai nghi sẽ đưa đến Chánh Niệm Tỉnh Giác, và khi đó mình sẽ kinh nghiệm trạng thái Tâm Như.

Tất cả mọi kỹ thuật hay chiêu thức giảng dạy của Thiền Tính Không đều hướng tới sự yên lặng tâm ngôn. Khi làm chủ tâm ngôn (tầm, tứ) là mình làm chủ nghiệp của mình.

Điều quan trọng sau cùng, chúng ta nhận ra trong Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh, các Tổ muốn gởi gắm lại bí quyết "qua bờ bên kia" tức đạt "Trí tuệ kiện toàn" bằng 2 chủ đề Tính Không và Chân Như. Ngày xưa Đức Phật và Chư Tổ dạy Tu thiền là phải thực hành. Ngày nay Thầy Thiền Chủ cũng thế, Thầy đã hướng dẫn chúng ta từ lớp Căn Bản lên đến 4 lớp Bát Nhã về Lý Thuyết lẫn thực hành chủ đề Chân Như. Thầy đã truyền trao kiến thức Phật học và bí quyết thực hành, đặc biệt là "Kỹ Thuật Không Nói" để đến "bờ bên kia". Phương tiện đã bày trước mặt. Đến nơi hay không là do chúng ta. Chúng ta thường hay nói: "Chúng con rất mang ơn Phật, Tổ và Thầy đã dày công giảng dạy". Nhưng Phật, Tổ và Thầy không muốn chúng ta mang ơn, mà chỉ muốn chúng ta đạt tới chỗ các ngài chỉ bảo. Vì thế đền ơn Thầy Tổ không phải chỉ là lời hứa suông mà phải thực hành miên mật để sớm thoát khổ giác ngộ giải thoát.

Từ tìm hiểu về Bát Nã Tâm Kinh, chúng tôi rút ra kết luận sau:

Bát Nhã Tâm Kinh là quan niệm của Phật giáo về thế giới (thế giới quan Phật giáo) đó là: Mọi vật chất (sắc) và tinh thần (Thọ, tưởng, hành, thức: cảm giác, tri giác, ý chí, nhận thức) đều có tính không (trống rỗng). Tính không cũng là vật chất và tinh thần, vật chất và tinh thần cũng là không. Mọi vật chất không mất đi cũng không tự sinh ra, nó luôn luôn biến đổi từ dạng này sang dạng khác. Do đó không có sinh cũng không có diệt (chết). Mỗi dạng của vật chất mà ta nhìn thấy "sắc" chỉ là hình tướng của vô vàn các vật chất khác tạo thành mà ta không nhìn thấy "không", nên nói "sắc" cũng là không. Nhưng ngược lại vô vàn vật chất mà ta không nhìn thấy "không" hiện hình dưới dạng một hình tướng vật chất "sắc", nên vô vàn vật chất đó "không" nhưng lại là "sắc". (không ở đây là trống rỗng chứ không có nghĩa là không và có). 

Chẳng hạn một cái xe là sự hợp lại của càng, thùng, bánh…, khi tháo rời các bộ thận này thì nó không còn là cái xe, nhưng nó không mất đi mà vẫn tồn tại dưới dạng các thành phần riêng lẻ, nên Phật giáo nói nó có mà là không. Từ chỗ không có cái xe, ta lắp các bộ phận vào nhau thì lại thành cái xe, vì vậy không mà là có, Khi nó tồn tại dưới dạng này thì không có dạng khác, khi nó tồn tại ở dạng khác thì nó không có ở dạng này. Nó không nhưng cũng là có “sắc tức thì không, không tức thì sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Không có sinh, không có diệt, không có thọ, tưởng, hành, thức”. Khi ngũ uẩn này kết hợp lại thì nó đang không lại trở thành có.

Hiểu được lý thuyết trên thì thấy "có" cũng là "không", "không" cũng là "có", không có sinh cũng không có diệt (chết), vì vậy không còn thấy khổ đau tức là đạt tới niết bàn (niết bàn là  giải thoát).

                                                                         H H K

  

MỘT SỐ BẢN DỊCH

Bản dịch Việt ngữ của Thi Vũ

KINH CHÂN TUỆ GIÁC SIÊU VIỆT

Khi tiến sâu vào nguồn mạch của Tuệ giác Siêu việt, Kẻ Tỉnh thức Quán khổ Trừ nguy nhận chân ra năm hợp thể và thấy suốt tự tánh Không của chúng, liền độ thoát mọi khổ ách.

"Này người con dòng Sari, hình thể là chân không, chân không là hình thể. Chân không chẳng khác hình thể, hình thể chẳng khác chân không. Mọi hình thể đều chân không, mọi chân không đều hình thể. Cảm xúc, nhận thức, ý chí hay ý thức đều như thế cả.

Này người con dòng Sari, mọi hiển tướng đều mang tự tính Không. Mọi hiển tướng đều không sinh không diệt, không dơ không sạch, không hề thêm cũng chẳng hề bớt.

Bởi lẽ đó, này người con dòng Sari, trong chân không không có hình thể, không có cảm xúc, không có nhận thức, không có ý chí, không có ý thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có hình, tiếng, mùi, vị, sờ chạm, hiển tướng; không có đối tượng của mắt, suốt đến đối tượng của ý thức cũng không; không có vô minh, không có chấm dứt vô minh, cho đến không có già, chết, cũng không có hết già, chết; không có khổ, không có nguyên nhân của khổ, không có giải thoát, không có con đường giải thoát; không có trí giác, không có tựu thành, vì chẳng có quả vị gì để thành tựu.

Bởi thế, này người con dòng Sari, nhờ an nhiên bất động với mọi thành quả cá nhân, Kẻ Tỉnh thức nương vào Tuệ giác Siêu việt thoát ly các niệm tưởng. Nhờ ly niệm nên không còn sợ hãi, thắng lướt mọi ảo vọng, và hóa hiện tính an như. Các đấng giác ngộ trong quá khứ, hiện tại và vị lai đều nương theo Tuệ giác Siêu việt mà phát hiện Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Cho nên, phải biết rằng Tuệ giác Siêu việt là linh ngữ kỳ vĩ, linh ngữ của huệ trí, linh ngữ tối hậu vô song, mang khả năng lay đổ mọi nghịch cảnh khổ đau. Linh ngữ thoắt sinh từ Tuệ giác Siêu việt này là sự thật, không mảy may dối trá. Câu linh ngữ có khả năng giải phóng đó là: "Độ, độ, siêu suốt mình và độ thoát mọi sinh dân. Giải thoát! Tất thảy cùng về an nhiên nơi chốn."

Bản dịch giản lược

(Theo Thiền viện Trúc Lâm Sùng Phúc, Gia Lâm, Hà Nội)

MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

Kinh Trí tuệ cứu Kính rộng lớn

Khi Bồ Tát Quán Tự Tại thực hành sâu Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa, ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách.

Này Xá Lợi Phất, Sắc chẳng khác không, không chẳng khác Sắc, Sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng như thế.

Này Xá Lợi Phất, tướng Không của các pháp không sinh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt.

Cho nên trong tướng Không

Không có sắc; không có Thọ, Tưởng, Hành, Thức;

Không có Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý;

Không có Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp;

Không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới;

Không có vô minh, cũng không có hết vô minh;

Cho đến không có già chết, cũng không có hết già chết.

Không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo;

Không có Trí tuệ, cũng không có Chứng Đắc,

Vì có chỗ không được nên Bồ Tát y Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa, tâm không ngăn ngại.

Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn.

Chư Phật ba đời đều y theo Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa được đạo quả Vô thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác.

Nên biết Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, hay trừ được hết thảy khổ, chân thật không dối.

Vì vậy nói Chú Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa, liền nói Chú rằng:

"Yết Đế, Yết Đế, Ba la Yết Đế, Ba la tăng Yết Đế, Bồ Đề tát Bà Ha" (3 lần)

Bản dịch đầy đủ

Như vầy một lần tôi nghe:

Thế Tôn ở thành Vương Xá trên đỉnh Linh Thứu sơn cùng với đại Tăng đoàn và nhiều chư Bồ-tát, vào thời điểm đó, Thế Tôn đã đang nhập chánh định về các Pháp giới phân biệt gọi là Cảnh giới trình hiện thậm thâm. Cũng chính tại thời điểm đó, Thánh giả Quán Tự Tại Bồ-tát, một đại thiện tri thức, thực hành thâm diệu Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa, ngài thấy được ngay cả năm uẩn cũng đều thiếu vắng tự tính. Sau đó, thông qua năng lực gia trì của đức Phật, tôn giả Xá-lợi-phất thông bạch với thánh giả Bồ-tát Quán Tự Tại rằng: "Thiện nam tử nên phát tâm rèn luyện thực hành thâm sâu pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa như thế nào?".

Khi điều này được hỏi, Thánh giả Quán Tự Tại Bồ-tát đáp lời tôn giả Xá-lợi-phất rằng: "Này Xá-lợi-phất! Các thiện Nam tử, thiện nữ nhân phát tâm thực hành pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa thâm diệu nên thấy như sau. Họ nên soi thấy đúng đắn, xuyên suốt và tái lặp là đến cả năm uẩn cũng đều thiếu vắng về tự tính. Sắc tức là không, không tức là sắc. Không [hoạt hành] chẳng khác chi sắc, sắc [hoạt hành] cũng chẳng khác chi Không. Tương tự, thọ, tưởng, hành thức thảy đều là Không.

Xá-lợi-phất, bởi thế, mọi hiện tượng đều là Không – thiếu vắng các đặc tính xác định; chúng không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm.

Cho nên, Xá-lợi-phất, trong Không, không có sắc, không thọ, không tưởng, không hành, không thức; không có nhãn, không nhĩ, không tỷ, không thiệt, không thân, không ý; không sắc, không thanh, không hương, không vị, không xúc, không pháp. Không có nhãn giới và vân vân cho đến không có ý thức giới. Không có vô minh cũng không có diệt hết vô minh, và vân vân cho đến không có già, chết cũng không có diệt hết già chết. Không có khổ, tập, diệt đạo. Không có trí tuệ, không có chứng đắc, cũng không có không chứng đắc.

Xá-lợi-phất, vì không có chứng đắc nên do đó Bồ-tát an trụ theo Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Vì tâm không uế chướng nên không sợ hãi, vượt khỏi sai lầm, đạt cứu cánh niết-bàn.

Tất cả chư Phật, an trụ trong tam thế tỉnh thức viên mãn và thấu suốt, cũng y theo Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa mà được vô thượng, chánh đẳng, chánh giác.

Do vậy, phải biết được rằng chú Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa – vốn là đại tri chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là ngang bằng với vô đẳng chú, diệt trừ được mọi khổ não – là chân thật vì nó không sai sót. Chú Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa được tuyên thuyết như sau:

tadyatha - gate gate paragate parasamgate bodhi svaha! (Vượt qua, vượt qua, vượt qua bên kia, hoàn toàn vượt qua, tìm thấy giác ngộ)

Này Xá-lợi-phất, bằng cách này, các vị đại Bồ-tát nên hành trì trong Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa thâm diệu."

Sau đó, Thế Tôn xuất khỏi chánh định và tán dương Thánh giả Quán Tự Tại Bồ-tát rằng: "Lành Thay!"

Ngài nói: "Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử, Đúng là vậy. Phải nên hành trì Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa thâm diệu như cách ông nói. Ngay cả các Như Lai cũng đều hoan hỷ!"

Thế tôn nói xong, tôn giả Xá-lợi-phất, Quán Tự Tại Bồ-tát, toàn thể đoàn tùy tùng chung quanh, và giới chúng sinh bao gồm trời, người, a-tu-la, và càn-thát-bà đều hoan hỷ và tán thán điều Thế Tôn dạy.

Bản dịch phổ thơ lục bát

Khi hành Bát Nhã Ba La

Ngài Quán Tự Tại soi ra tột cùng

Thấy ra năm uẩn đều Không

Bao nhiêu khổ ách khốn cùng độ qua

Nầy Xá Lợi Tử xét ra

Không là sắc đó, sắc là không đây

Sắc cùng không chẳng khác sai

Không cùng sắc vẫn sánh tài như nhau

Thọ, tưởng, hành, thức uẩn nào,

Cũng như sắc uẩn, một màu không không

Nầy Xá Lợi Tử ghi lòng

Không không tướng ấy, đều không tướng hình

Không tăng giảm, không trược thanh

Cũng không diệt, cũng không sinh pháp đồng

Vậy nên trong cái chân không

Vốn không năm uẩn, cũng không sáu trần

Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân

Vị, hương, xúc, pháp, cùng phần sắc, thinh

Từ không giới hạn mắt nhìn

Đến không ý thức, vô minh cũng đồng

Hết vô minh, cũng vẫn không

Hết già, hết chết, cũng không có gì

Không khổ, tập, diệt, đạo kia

Trí huệ chứng đắc cũng là không không

Sở thành, sở đắc bởi không

Các vì Bồ Tát nương tùng huệ năng

Tâm không còn chút ngại ngăn

Nên không còn chút băn khoăn sợ gì

Đảo điên mộng tưởng xa lìa

Niết Bàn mới đến bên kia bến bờ

Ba đời chư Phật sau, xưa

Đắc thành Chánh Giác cũng nhờ huệ năng

Trí huệ năng lực vô ngần

Đại Minh vô thượng, Đại Thần cao siêu

Trí huệ năng lực có nhiều

Thật là thần chú trừ tiêu não phiền

Trí huệ năng lực vô biên

Dẫn đường giải thoát qua bên giác ngàn

Liền theo lời chú thuyết rằng:

Độ tha giác ngộ khắp trần chúng sinh.

Yết đế, yết đế

Ba la yết đế

Ba la tăng yết đế

Bồ đề Tát bà ha

Nguồn:  THÍCH NỮ HẰNG NHƯ tổng hợp và ghi nhận. Mùa An Cư tại Tổ Đình Tính Không, CA / 27-10-2015. https://tanhkhong.org/a605/tim-hieu-y-nghia-bat-nha-ba-la-mat-da-tam-kinh

 


CHIA SẺ BÀI VIẾT

Bài cùng chủ đề
Loading

SÁCH CỦA TÔI