Giới thiệu kỹ thuật mới điều trị viêm quanh khớp vai thể đông cứng

Cập nhật: 27/10/2016 Lượt xem: 2271

Kỹ thuật mới “Kéo bóc tách viêm dính khớp vai dưới gây tê thần kinh trên vai để điều trị viêm quanh khớp vai thể đông cứng”.

Đây là một kỹ thuật mới được đề xuất và thực hiện bởi tác giả Hà Hoàng Kiệm, BV 103. hiện đang được triển khai áp dụng tại Bộ môn-Khoa Phục hồi chức năng BV 103. Kỹ thuật đã đem lại sự tiến bộ nhảy vọt cho kết quả điều trị viêm quanh khớp vai thể đông cứng.

Kỹ thuật đã được Hội đồng Khoa học và Y đức BV 103 thông qua 22.4.2016 và chấp nhận cho thực hiện trong lâm sàng, đã được HVQY xét và công nhận sáng kiến cấp cơ sở 2016 và đề nghị dự xét sáng kiến cấp Bộ 2017.

1. Khái niệm về viêm quanh khớp vai thể đông cứng

1.1. Định nghĩa

Viêm quanh khớp vai thể đông cứng (Frozen shoulder) là bệnh có đặc trưng lâm sàng là đau và hạn chế vận động khớp vai. Nguyên nhân do viêm dính bao khớp ổ chảo-cánh tay, không có tổn thương sụn và xương khớp vai, không do chấn thương mới khớp vai, không do vi khuẩn.

Viêm quanh khớp vai thể đông cứng là thể bệnh thường gặp ở người có độ tuổi 40-60 cả nam và nữ, chiếm dưới 10% các trường hợp viêm quanh khớp vai, đứng hàng thứ hai sau viêm quanh khớp vai thông thường.

1.2. Tổn thương mô bệnh học

- Theo Neveiaser, Lippman, Simmonds khi nghiên cứu tổn thương mô bệnh học ở bệnh nhân viêm quanh khớp vai thể đông cứng đều cho thấy: bao hoạt dịch khớp ổ chảo-cánh tay viêm, đây là hình ảnh viêm mạn tính với các ổ hoại tử, xung quanh xâm nhập các tế bào viêm mạn. Tăng sinh hình lông màng hoạt dịch, xung huyết ở tổ chức đệm dưới niêm mạc và nhiều chỗ màng hoạt dịch bị viêm loét và có chỗ dính do viêm. Bao khớp bị viêm với các ổ xâm nhập các tế bào viêm mạn. Có chỗ hoại tử ổ, xen lẫn những chỗ xơ hóa. Gân cơ chóp xoay, bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai hoàn toàn bình thường. Bao hoạt dịch và bao khớp ổ chảo-cánh tay bị viêm mạn tính.

IMG_0933

 

 

 

 

 

 

 

Hình 1. Viêm dính bao khớp qua nội soi. (a) Mô hình viêm dính bao khớp. (b) Hình ảnh nội soi khớp vai bình thường (bao hoạt dịch trơn bóng, nhìn rõ gân cơ nhị đầu và các dây chằng ổ chảo-cánh tay bình thường). (c) Hình ảnh nội soi viêm dính khớp vai (màng hoạt dịch bị viêm loét, có chỗ hoại tử, xung huyết).

1.3. Sinh bệnh học

Bình thường bao khớp vai rộng rãi, chùng lỏng giúp cho khớp vai có tầm vận động rộng và linh hoạt. Tùy theo động tác vận động của xương cánh tay mà bao khớp có chỗ căng, có chỗ chùng, chỗ chùng bao khớp gấp nếp lại. Đặc điểm đó của bao khớp giúp cho lồi cầu có thể trượt được dễ dàng trên ổ chảo. Bao khớp phía đối diện với hướng vận động của cánh tay sẽ căng, bao khớp phía cùng hướng với hướng vận động của cánh tay sẽ chùng lại và được gấp nếp ra ngoài. Khi cánh tay khép dọc thân mình, phần bao khớp phía trên căng, phía dưới (nách) chùng và gấp nếp tạo thành một túi ở dưới. Ngược lại khi dạng và giơ cánh tay lên, lồi cầu trượt từ trên xuống dưới trong ổ chảo, bao khớp phía dưới (nách) căng và bao khớp phía trên chùng được gấp nếp lên trên.

Trong viêm quanh khớp vai thể đông cứng, bao khớp và bao hoạt dịch bị viêm. Các ổ viêm loét của bao hoạt dịch sẽ gây dính các nếp gấp của bao khớp làm chúng không tách ra được khi bao khớp cần dãn. Bao khớp bị viêm có ổ hoại tử và xâm nhập các tế bào viêm, và có chỗ xơ hóa là dấu vết của các ổ hoại tử, làm bao khớp trở nên dày, cứng. Các biến đổi đó khiến bao khớp dần trở nên bó cứng lấy khớp làm lồi cầu không còn trượt được trên ổ chảo nữa. Khi vận động cánh tay, cánh tay kéo cả xương bả vai xoay theo, tầm vận động khớp vai  hầu như phụ thuộc vào vận động của xương bả vai. Vì khớp vai như bị đông cứng lại, nên người ta gọi là viêm khớp vai thể đông cứng (frozen shoulder). Nhưng bản chất của vấn đề là bao khớp vai bị viêm dính gây nên, vì thế một số tác giả gọi là viêm dính bao khớp vai (adhesive capsulitis).

Viêm dính bao khớp làm bao khớp bó chặt lồi cầu xương cánh tay vào ổ chảo, lồi cầu không thể trượt được trên ổ chảo, thể tích ổ khớp giảm. Khi bơm thuốc cản quang vào ổ khớp để chụp, chỉ bơm được lượng thuốc rất ít  khoảng dưới 2ml, trong khi khớp bình thường bơm được trên 10ml. Do bao khớp dính, các túi hoạt dịch bị dính làm thuốc cản quang không ngấm vào được, không thấy thuốc ngấm vào túi hoạt dịch dưới mỏm quạ, túi hoạt dịch nếp nách, túi hoạt dịch gân dài cơ nhị đầu.

IMG_0934

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình 2. MRI ghi hình khớp vai có bơm thuốc cản quang (MRI arthrogram).

(a) Khớp vai bình thường, thuốc cản quang ngấm đầy ổ khớp, tràn vào túi hoạt dịch dưới mỏm quạ, túi hoạt dịch nách do bao khớp gấp nếp tạo ra, và túi hoạt dịch gân dài cơ nhị đầu. Trên mấu động lớn, chỗ bám của gân cơ chóp xoay không có thuốc cản quang.

(b) Khớp vai đông cứng, chỉ bơm được rất ít thuốc cản quang. Không thấy thuốc cản quang ngấm vào túi hoạt dịch dưới mỏm quạ, túi hoạt dịch nách và túi hoạt dịch gân nhị đầu.

1.4. Triệu chứng lâm sàng

1.4.1. Các giai đoạn lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng của viêm quanh khớp vai thể đông cứng diễn biến tự nhiên thường có qua 3 giai đoạn. Đó là: giai đoạn đau khớp vai (painful stage), giai đoạn khớp vai đông cứng (frozen shoulder), giai đoạn tan đông (thawing stage).

- Giai đoạn đau khớp vai (vài tuần-6-8 tháng):

Bệnh nhân bị đau khớp vai với tính chất của đau do viêm. Đau cả khi nghỉ ngơi, đau nhiều về đêm có khi làm bệnh nhân tỉnh giấc. Đau tăng với bất kỳ vận động nào của cánh tay. Ban đầu đau thường nhẹ, tăng dần và dai dẳng trong nhiều tháng. Mức độ đau thường ít trầm trọng so với viêm quanh khớp vai thông thường. Đau tăng dần trong vài tuần hoặc một vài tháng.

Hạn chế vận động khớp vai: thời kỳ đầu chưa có hạn chế vận động khớp vai, chỉ hạn chế vận động do đau, dần dần tầm vận động của khớp giảm, vận động thụ động cũng không đạt được hết tầm. Bệnh nhân phàn nàn khớp vai cứng, không thể chải đầu hoặc gãi lưng được, đưa tay ra trước ra sau đều bị hạn chế.

Giai đoạn đau khớp vai thường kéo dài vài tuần tới 6-8 tháng. Triệu chứng nổi bật là đau khớp vai, về sau tầm vận động khớp vai giảm dần.

- Giai đoạn khớp vai đông cứng (1-2 năm):

Hạn chế vận động khớp vai tăng dần đến mức khớp vai như bị đông cứng lại. Bất kỳ một vận động nào của cánh tay đều kéo theo vận động của xương bả vai mà không có vận động của khớp ổ chảo-cánh tay. Khi bác sĩ dùng tay cố định xương bả vai của bệnh nhân, xương cánh tay hoàn toàn không vận động được, cả vận động chủ động và vận động thụ động, giống như khớp ổ chảo-cánh tay bị đông cứng lại. Đây là đặc điểm nổi bật của thể bệnh này.

Đau khớp vai giảm dần khi khớp vai ngày càng đông cứng. Tuy nhiên, bệnh nhân không hết đau ngay cả khi khớp vai bị đông cứng hoàn toàn. Bệnh nhân không thể cử động được vai, không với được tay lên để chải tóc, không gãi được sau lưng, không thể với tay để lấy đồ vật được. Tay có khớp vai đông cứng bị giảm chức năng nghiêm trọng.

Giai đoạn này thường kéo dài hai tới sáu tháng, khớp vai bị mất chức năng hoàn toàn, không vận động được.

- Giai đoạn tan đông (6-9 tháng):

 Tầm vận động của khớp vai tăng dần nhưng chậm chạp trong nhiều tháng, có khi hàng năm. Ngược lại với sự tiến bộ của tầm vận động khớp thì đau khớp vai trở lại mỗi khi vận động khớp vai, tuy nhiên mức độ đau thấp hơn so với giai đoạn đầu. Giai đoạn này có một số bệnh nhân đòi hỏi phải dùng thuốc giảm đau.

Giai đoạn tan đông kéo dài từ một tới chín tháng, có thể hàng năm, cuối cùng tầm vận động của khớp vai trở lại bình thường, nhưng đau khi vận động còn kéo dài thêm một vài tháng.

1.4.2. Cận lâm sàng

- Chụp X-quang thường quy không thấy tổn thương xương khớp ở khớp vai.

- Siêu âm khớp vai có thể hoàn toàn bình thường, nhưng cũng có thể phát hiện các tổn thương của gân cơ chóp xoay hoặc bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai.

- Chụp khớp vai có bơm thuốc cản quang: thể tích khoang khớp giảm, chỉ bơm được khoảng 2 ml thuốc. Khoang khớp bị thu hẹp, không thấy các túi hoạt dịch dưới mỏm quạ, túi hoạt dịch gân dài cơ nhị đầu, túi hoạt dịch nách do gấp nếp của bao khớp bị dính.

- Chụp cộng hưởng từ (MRI): thấy bao khớp dày, phù nề, túi hoạt dịch gấp nếp của bao khớp phía nách bị dính. Sụn khớp và ổ chảo bình thường, các cấu trúc phần mềm quanh khớp bình thường, nhưng cũng có thể thấy hình ảnh viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng, thoái hóa, rách đứt gân cơ chóp xoay, lắng đọng calci ở gân cơ chóp xoay.

- MRI ghi hình khớp vai có bơm thuốc cản quang (MRI arthrogram) cho thấy thể tích khớp vai bị thu hẹp, thuốc không ngấm vào được các túi cùng thanh mạc.

- Nội soi khớp vai: thấy màng hoạt dịch khớp viêm loét, có chỗ hoại tử, có chỗ xung huyết, có chỗ xơ dính. Khoang khớp hẹp, không dãn ra được.

1.5. Chẩn đoán

Chẩn đoán viêm quanh khớp vai thể đông cứng chủ yếu dựa vào lâm sàng với đặc trưng là hạn chế vận động khớp vai và đau khớp vai. Chụp X-quang thường không thấy có tổn thương xương khớp vai.

- Đau khớp vai với tính chất đau do viêm: đau cả khi nghỉ, đau tăng khi vận động, thường đau nhiều về đêm. Giai đoạn đầu đau không kèm hạn chế vận động khớp về sau hạn chế vận động khớp tăng dần. Khi hạn chế vận động khớp tăng thì đau giảm.

- Nhìn bên ngoài khớp vai hoàn toàn bình thường, không sưng, không nóng, không đỏ. Nếu hạn chế vận động khớp vai kéo dài không được điều trị có thể thấy teo cơ trên gai, teo cơ dưới gai, teo cơ delta, cơ nhị đầu cánh tay do hạn chế vận động lâu. Toàn thân bình thường, không sốt, bạch cầu trong máu không tăng.

- Hạn chế vận động khớp vai là dấu hiệu cơ bản, cả vận động chủ động và vận động thụ động đều không thực hiện được. Lồi cầu và ổ chảo gần như bị bó cứng, làm bất kỳ một cử động nào của cánh tay cũng kéo xương bả vai vận động theo. Nếu bác sĩ dùng tay cố định xương bả vai của bệnh nhân thì cánh tay bệnh nhân không thể vận động được cả vận động chủ động và vận động thụ động. Đây là điểm cơ bản để phân biệt với viêm quanh khớp vai thể thông thường.

- Siêu âm khớp vai có thể thấy gân cơ chóp xoay bình thường, bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai bình thường nếu là đông cứng khớp vai nguyên phát. Có thể thấy tổn thương viêm thoái hóa ở gân cơ chóp xoay, có thể thấy lắng đọng calci ở gân cơ chóp xoay hoặc viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng, nếu là đông cứng khớp vai thứ phát.

- X-quang khớp vai thường quy không thấy tổn thương xương và sụn khớp. Có thể thấy khe khớp vai hẹp. Chụp khớp vai có bơm thuốc cản quang thấy thể tích khớp hẹp, lượng thuốc bơm vào chỉ khoảng 2 ml, không thấy các túi hoạt dịch dưới mỏm quạ, túi hoạt dịch gân dài cơ nhị đầu, nếp nách, diện tích diện khớp thu hẹp.

- Chụp cộng hưởng từ khớp vai: thấy bao khớp dày, phù nề, túi hoạt dịch gấp nếp của bao khớp phía nách bị dính. Sụn khớp và ổ chảo bình thường, các cấu trúc phần mềm quanh khớp bình thường. Nhưng cũng có thể thấy hình ảnh viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng, thoái hóa, rách đứt gân cơ chóp xoay, lắng đọng calci ở gân cơ chóp xoay.

- Ghi hình khớp vai có bơm thuốc cản quang với MRI (MRI arthrogram) thấy thể tích khoang khớp thu hẹp, thuốc không ngấm được vào các túi cùng hoạt dịch (do bị dính). Có thể thấy hình ảnh rách gân cơ chóp xoay không hoàn toàn (thuốc cản quang ngấm được vào phía trên mấu động lớn), hoặc rách hoàn toàn gân cơ chóp xoay làm thuốc cản quang lên được bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai.

 

 

Hình 3: Bệnh nhân viêm quanh khớp vai trái thể đông cứng.

1.6. Các phương pháp điều trị kinh điển

Viêm quanh khớp vai thể đông cứng là một thể bệnh khó khăn trong điều trị. Vấn đề cơ bản là bao khớp bị viêm dính, dày và xơ hóa dẫn đến bó cứng khớp làm mất chức năng khớp. Vì vậy mục tiêu điều trị ngoài chống viêm giảm đau thì các biện pháp phá dính, làm dãn bao khớp, để phục hồi lại chức năng của khớp là rất quan trọng. Điều trị sớm trong giai đoạn đầu thường đạt kết quả tốt hơn so với điều trị muộn.

1.6.1. Điều trị nội khoa

Viêm quanh khớp vai thể đông cứng chủ yếu là điều trị nội khoa, chỉ chỉ định can thiệp bằng nội soi trong một số trường hợp đặc biệt.

- Dùng thuốc:

Thuốc thường dùng thời gian đầu là các thuốc giảm đau nhóm paracetamol, salixilate.

Thuốc chống viêm giảm đau nhóm non-steroid đường uống hoặc đường tiêm tùy theo mức độ đau của bệnh nhân để giúp kiểm soát đau.

Nhóm thuốc steroid có thể cân nhắc dùng trong trường hợp đau nhiều ở giai đoạn đầu và giai đoạn tan đông. Giai đoạn đông cứng khớp vai corticoid không được khuyến cáo sử dụng.

Tiêm vào khoang khớp: Vị trí tiêm vào khoang khớp vai ở mặt trước, phía dưới và ngoài mỏm quạ. Sờ bằng ngón tay để xác định mỏm quạ, kẻ một đường tiếp tuyến với bờ ngoài mỏm quạ, một đường tiếp tuyến với bờ dưới mỏm quạ, điểm cắt của hai đường trên là vị trí chọc kim. Tốt nhất là tiêm dưới hướng dẫn của siêu âm để đảm bảo thuốc vào đúng khoang khớp. Trong điều kiện bao khớp viêm dính, xơ hóa, khe khớp hẹp do bị bó cứng là rất khó khăn, cần có bác sĩ chuyên khoa và những người có kinh nghiệm thực hiện. Đặc biệt chú ý vô khuẩn tốt, biến chứng nhiễm khuẩn khớp vai là biến chứng nặng của tiêm vào ổ khớp vai. Thuốc được dùng là các dung dịch corticoid tác dụng chậm hoặc trộn lẫn tác dụng chậm và tác dụng nhanh.

Các biện pháp dùng thuốc giúp giảm đau, giảm viêm tốt nhưng không giúp cải thiện tầm vận động của khớp vai do bao khớp vẫn bị dính cứng, bó chặt khớp.

- Vật lý trị liệu:

Để cải thiện tầm vận động của khớp vai trong viêm quanh khớp vai thể đông cứng, không thể không áp dụng các biện pháp vật lý trị liệu. Các thuốc chống viêm giảm đau chỉ giúp kiểm soát đau nhưng không giúp giải phóng bao khớp bị dính, cứng do viêm và xơ hóa.

+ Sử dụng các phương pháp vật lý có tác dụng chống viêm, tăng tuần hoàn dinh dưỡng cho khớp vai như: sóng ngắn, sóng cực ngắn, vi sóng, paraffin, bức xạ hồng ngoại, điện xung, điện di ion thuốc. Các phương pháp điều trị này cũng chỉ làm giảm đau, giảm viêm mà không làm tăng được tầm vận động của khớp vai.

+ Áp dụng các bài tập phục hồi chức năng khớp vai với mục đích làm dãn bao khớp, bóc tách các vị trí bao khớp bị dính, phục hồi lại diện tích bao khớp như ban đầu.

- Sử dụng bài tập con lắc:

Bài tập vận động kiểu con lắc thực hiện như sau: bệnh nhân nằm sấp trên giường tập, vai bệnh chìa ra ngoài thành giường, tay thả xuống cầm một quả tạ hoặc bao cát hoặc chiếc bàn là có trọng lượng 3-5kg. Làm sao để bệnh nhân vẫn giữ được quả tạ mà vẫn thư dãn được cơ khớp vai. Cho tay cầm quả tạ đung đưa kiểu con lắc theo chiều dọc theo thân mình, sau đó theo chiều ngang. Chú ý trong lúc đung đưa tay, các cơ khớp vai phải luôn thư dãn. Tập cho tới khi thấy đau nhiều ở khớp vai thì ngừng. Mỗi ngày tập 2 lần và tập hàng ngày. Có thể tập dưới tác dụng của các thuốc chống viêm giảm đau khác mà không cần gây tê thần kinh trên gai. Bài tập kiểu con lắc giúp bóc tách các điểm dính của bao khớp và gây dãn bao khớp vai.

Bằng phương pháp phong bế thần kinh trên vai và tập vận động kiểu con lắc, chúng tôi đã thu được kết quả khá tốt trong cải thiện tầm vận động khớp vai của bệnh nhân.

IMG_0938

Hình 4. Bài tập vận động con lắc.

- Tập theo tầm vận động khớp vai: Dạng khớp vai thụ động, gấp cánh tay ra trước, gấp cánh tay ra sau, xoay cánh tay.

ANd9GcQeRosR0b7KEJTZmceDykLgQqTOAOYFk26CL_A2bjxaeOoxGz2_GKE9YX4

Xoay trong, xoay ngoài cánh tay

ANd9GcSBPe0pxMDQsKwVTSeEWOJdwAbm9fYL5P3alNpwjhTWi-KZfYeqVNWaW5AV

Kéo dãn khớp vai bằng tay

Hình 5. Tập theo tầm vận động của khớp vai.

- Tập với dụng cụ: Có thể sử dụng các bài tập với dụng cụ để hỗ trợ, như tập với gậy, tập với thang gióng, tập với tay quay kiểu lái tàu thủy.  

Hình 6. Tập khớp vai với dụng cụ.

A00071F02

     

Hình 7. Các bài tập khớp vai bổ xung.

 

1.6.2. Điều trị can thiệp

1.6.2.1. Kéo dãn khớp vai dưới gây mê

Những trường hợp nặng, điều trị nội khoa không hiệu quả, người ta có thể gây mê bệnh nhân. Sau đó dưới tác dụng của gây mê, các bác sĩ chấn thương chỉnh hình có thể kéo dãn khớp vai bệnh nhân. Sau kéo dãn dưới gây mê, bệnh nhân phải tiếp tục được tập phục hồi chức năng khớp vai, nếu không dính bao khớp vai sẽ trở lại. Tuy nhiên thủ thuật này có thể gây rách bao khớp, gãy xương, hiện nay không được khuyến cáo áp dụng.

1.6.2.2. Can thiệp bằng nội soi khớp vai

Nội soi khớp vai để bóc tách các chỗ dính, cắt đốt các dải xơ dính, các ổ viêm mạn của bao khớp, cắt gọt các gai xương. Sau can thiệp nội soi phải cho bệnh nhân tập phục hồi chức năng khớp vai tiếp tục, nếu không bao khớp sẽ dính trở lại.

Chỉ đặt vấn đề điều trị can thiệp kéo dãn khớp vai dưới gây mê hoặc nội soi đối với viêm quanh khớp vai thể đông cứng khi điều trị nội khoa tích cực không mang lại hiệu quả, bệnh nhân bị mất chức năng khớp vai, teo các cơ quanh khớp vai. Nội soi có thể cắt, đốt các dải xơ dính, bóc tách các vùng dính, giải phóng bao khớp, đốt các tổ chức viêm mạn ở bao khớp. Sau đó vẫn phải cho bệnh nhân tập vận động phục hồi chức năng khớp vai tích cực mới có kết quả.

2. Kỹ thuật “Kéo bóc tách viêm dính khớp vai dưới gây tê thần kinh trên vai để điều trị viêm quanh khớp vai thể đông cứng”.

2.1. cơ sở khoa học

Xuất phát từ cơ chế bệnh sinh của viêm quanh khớp vai thể đông cứng có hai vấn đề là viêm bao khớp ổ chảo cánh tay và hạn chế vận động khớp vai do dính bao khớp ở nếp gấp nách. Vì vậy việc điều trị phải giải quyết được hai vấn đề: thứ nhất chống viêm bằng sử dụng thuốc, thứ hai bóc tách dính khớp vai để giải phóng tầm vận động khớp đưa tầm vận động khớp vai trở về bình thường.

Để bóc tách dính khớp vai tác giả Hà Hoàng Kiệm BV 103 đã đưa ra kỹ thuật gây tê thần kinh trên vai có bổ xung gây tê bao khớp vai tại hai điểm phía trước và phía trên bao khớp. Sau đó kéo bóc tách dính khớp vai bằng tay.

Quy trình kỹ thuật đã được Hội đồng khoa học và Hội đồng Y đức Bệnh viện Quân y 103 thông qua ngày 22 tháng 4 năm 2016 và cho phép thực hiện trong lâm sàng. Kỹ thuật đã được Hội đồng khoa học Học Viện Quân y công nhận là sáng kiến cấp cơ sở ngày 9.8.2016.

2.2. Giải phẫu thần kinh trên vai

 

 

 

 

 

 

Hình 8. Giải phẫu thần kinh trên vai.

Theo Rene Cailliat Đại học Southern Californina (Shoulder Pain) thần kinh trên vai bắt nguồn từ rễ C5, C6 đi vào thân trên đám rối thần kinh cánh tay. Từ thân trên tách ra dây thần kinh trên vai đi qua khuyết trên vai để ra sau xương bả, rồi chia làm hai nhánh là nhánh thần kinh trên gai chi phối cơ trên gai và nhánh thần kinh dưới gai. Nhánh dưới gai chi phối cơ dưới gai, bao khớp ổ chảo cánh tay, mỏm cùng và khớp cùng – đòn.

2.3. Kéo bóc tách viêm dính khớp vai dưới gây tê thần kinh trên vai

Gây tê thần kinh trên vai có bổ xung gây tê quanh bao khớp vai để kéo bóc tách viêm dính khớp vai. Đây là thủ thuật đơn giản nhưng rất hiệu quả, có thể tiến hành điều trị ngoại trú mà không cần nằm viện. Trước hết điều trị thuốc chống viêm giảm đau trong 1 tuần để đau khớp vai giảm rồi mới tiến hành thủ thuật. Gây tê thần kinh trên vai bằng lidocain và bổ xung gây tê bằng Lidocain quanh bao khớp vai. Sau 5 - 10 phút tiến hành kỹ thuật. Sau thủ thuật cần tiếp tục cho bệnh nhân dùng thuốc chống viêm giảm đau và tập vận động để chống dính lại của bao khớp.

43.JPG tải xuống (1).png

Hình 9. Vị trí gây tê bao khớp ổ chảo cánh tay dưới mỏm quạ.

 

Hình 10. Vị trí gây tê bao khớp ổ chảo cánh tay dưới mỏm cùng vai.

Tiêu chuẩn đánh giá kết quả

- Về triệu chứng đau khớp vai: ngay sau kéo có thể bệnh nhân còn đau nhẹ ở khớp vai, nhưng 1 tuần sau kéo dãn bệnh nhân gần như hết đau ở khớp vai (Theo thang điểm đau VAS thì sau kéo 1 tuần phần lớn bệnh nhân có điểm đau là 0 hoặc 1 điểm).

- Về biên độ khớp vai: ngay sau kéo biên độ khớp vai thay đổi rõ rệt, vận động thụ động dạng và gấp đạt 180 độ và sau 1 tuần kéo dãn biên độ dạng – khép, gấp – duỗi chủ động về bình thường.

- X-Quang khớp vai: không thấy hình ảnh tổn thương xương và khớp vai, chụp được khớp vai ở biên độ dạng và lên trên 180 độ.

   

Hình 11. Quy trình kỹ thuật kéo dãn khớp vai dưới gây tê thần kinh trên vai.

Kỹ thuật đã được tiến hành tại Khoa Phục hồi chức năng BV 103 bởi nhóm Bác sĩ trẻ dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm đã đạt kết quả thật tuyệt vời. Ngay sau kỹ thuật tầm vận động khớp vai của bệnh nhân trở lại bình thường, bệnh nhân chỉ cần uống thuốc chống viêm tiếp 1 tuần đến 10 ngày. Các bệnh nhân chỉ cần đến làm kỹ thuật trong vòng 30 phút đến 1 giờ sau đó về uống thuốc chống viêm theo đơn  7-10 ngày là khỏi hoàn toàn. Các bác sỹ, những người đã trực tiếp điều trị cho nhiều bệnh nhân viêm quanh khớp vai nói rằng: sáng kiến kỹ thuật này đã tạo ra một cuộc cách mạng trong điều trị viêm quanh khớp vai thể đông cứng.

Dưới đây là một số hình ảnh:

  

    

Hình 12. BN 1. Viêm quanh khớp vai phải, trước kỹ thuật tầm vận động khớp vai chỉ 90 độ, ngay sau kỹ thuật tầm vận động khớp vai đạt 180 độ.

  

   

Hình 13. BN 2. Mai Th. 57t. Nghệ An. Viêm quanh khớp vai trái. Trước kỹ thuật tầm vận động khớp vai 85 độ, ngay sau kỹ thuật tầm vận động khớp vai 180 độ.

  

  

Hình 14. BN 3. Nguyễn Thị Ph. 68t. Nghệ An. Viêm quanh khớp vai phải. Trước kỹ thuật tầm vận động khớp vai 45 độ, ngay sau kỹ thuật tầm vận động khớp vai 180 độ.

 

  

  

Hình 15. BN 4. Lê Thị T. 63t. Lê Lợi, Kiến Xương, Thái Bình. Viêm quanh khớp vai trái. Trước kỹ thuật tầm vận động khớp vai 45 độ, ngay sau kỹ thuật tầm vận động khớp vai 180 độ.

  

 

  

Hình 16. BN 5. Võ Thị Ng. 57t. Xã Nghi Phú, TP Vinh. Viêm quanh khớp vai trái. Trước kỹ thuật tầm vận động khớp vai 85 độ, ngay sau kỹ thuật tầm vận động khớp vai 180 độ.

 

Hình 17. Báo cáo kỹ thuật trước Hội đồng khoa học xét sáng kiến kỹ thuật cấp Học viện Quân y ngày  9.8.2016.

 

  

  

Hình 18. BN 6. Kíp kỹ thuật tiến hành kỹ thuật điều trị cho BN Nguyễn Thị Th. 68 t, Hà Nội, trước Hội đồng chấm  Hội thao kỹ thuật sáng tạo tuổi trẻ BV 103 ngày 26.10.2016.

  

  

Hình 19. Bệnh nhân 7. Bùi Văn Kính 60t, Nam hồng, Tiền Hải, Thái Bình. Viêm quanh khớp vai trái. Trước khi làm thủ thuật dang khớp vai 85 độ, ngay sau thủ thuật dạng khớp vai đạt 180 độ. 5.11.2016.

  

  

Hình 20. Bệnh nhân 8. Nguyễn Thị Chi 68t, 301 Quang Trung, Hà Đông HN. Viêm quanh khớp vai trái tháng thứ 3, trước thủ thuật dạng khớp vai 70 độ. BN đã chuẩn bị 30 triệu theo hẹn vào BV Việt Đức để mổ nội soi, nhưng có việc chưa vào thì có người giới thiệu đến với chúng tôi, sau thủ thuật 25.11.2016, dạng khớp vai 180 độ, chỉ chi phí hết 80 ngàn đồng tiền thuốc.

 

Hình 21. Cuốn “Viêm quanh khớp vai, chẩn đoán và điều trị” đã khơi nguồn cho 2 sáng kiến kỹ thuật của các bác sĩ trẻ BV 103 năm 2016.

3. TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trần Ngọc Ân; “Viêm quanh khớp vai”; Bệnh thấp khớp, Nhà xuất bản y học 2002; trang 364- 374 

  2. Hà Hoàng Kiệm; “ Viêm quanh khớp vai, chẩn đoán và điều trị" NXB TDTT. 2015

  3. De Winter. AF, Jans MP, Scholten .RJ, Deville. W, van Schaardenburg. D, Bouter .LM; “Diagnostic classification of shoulder disorders: interobserver agreement and determinants of disagreement”; Ann Rheum Dis, 1999 ; p58 : 272-7 

  4. Ebenbichler . GR, Erdogmus.CB, Resch. KL, et coll; “Ultrasound therapy for calcific tendinitis of the shoulder”; N Eng J Med 340(20), 1999; p1533. 

  5. Hurt .G, Baker .CL Jr; “Calcific tendinitis of the shoulder”; Orthop Clin North Am. 2003;34(4); p567–75. 

  6. Jess D Salinas Jr, Jerrold N Rosenberg; “Corticosteroid Injections of Joints and Soft Tissues”; Emedicine Specialities-Physical Medicine and Rehabilitation, 2009.

  7. Jones DS, Chattopadhyay C. Suprascapular nerve block for the treatment of frozen shoulder in primary care: a randomized trial. Br J Gen Pract 1999; 49:39-41.

  8. Karatas GK, Meray J. Suprascapular nerve block for pain relief in adhesive capsulitis: comparison of 2 different techniques. Arch Phys Med Rehabil 2002; 83: 593-597

  9. Børglum J, Bartholdy A, Hautopp H, Krogsgaard MR, Jensen K. Ultrasound-guided continuous suprascapular nerve block for adhesive capsulitis: one case and a short topical review. Acta Anaesthesiol Scand 2011; 55:242-247

  10.  Emery P, Bowman S, Wedderburn L, Grahame R. Suprascapular nerve block for chronic shoulder pain in rheumatoid arthritis. Br Med J 1989;299:1079-80.

  11. Gado K, Emery P. Modified suprascapular nerve block with bupivacaine alone effectively controls chronic shoulder pain in patients with rheumatoid arthritis. Ann Rheum Dis 1993;52:215-8.

  12. Lee K, Khunadorn F. Painful shoulder in hemiplegic patients: a study of the suprascapular nerve. Arch Phys Med Rehabil 1986; 67:818-20.

  13.   Parris WC. Suprascapular nerve block: a safer technique. Anesthesiology 1990;72:580-1.

  14. Vecchio PC, Adebajo AO, Hazleman BL. Suprascapular nerve block for persistent rotator cuff lesions. J Rheumatol 1993;20:453-5.

  15.  Wassef MR. Suprascapular nerve block: a new approachfor the management of frozen shoulder. Anaesthesia 1992;47:120-4.

  16. Calis M, Demir H, Ulker S, Kirnap M, Duygulu F, Calis HT. Is intraarticular sodium hyaluronate injection an alternative treatment in patients with adhesive capsulitis? Rheumatol  Int 2006; 26: 536-540.

  17. Van der Windt DA, van der Heijden GJ, Scholten RJ, Koes BW, Bouter LM. The efficacy of non-steroidal anti-inflammatory drugs (NSAIDS) for shoulder complaints. A systematic review. J Clin Epidemiol 1995;48:691-704.

  18. Kelley MJ, McClure PW, Leggin BG. Frozen shoulder: evidence and a proposed model guiding rehabilitation. J Orthop Sports Phys Ther 2009; 39:135-148.

  19. Cinar M, Akpinar S, Derincek A, Circi E, Uysal M. Comparison of arthroscopic capsular release in diabetic and idiopathic frozen shoulder patients. Arch Orthop Trauma Surg 2010; 130: 401-406.

  20. Jones DS, Chattopadhyay C. Suprascapular nerve block for the treatment of frozen shoulder in primary care: a randomized trial. Br J Gen Pract 1999; 49:39-41.

 

Hà Nội, ngày 26  tháng 10 năm 2016

Tác giả sáng kiến kỹ thuật

Đại tá, PGS.TS Hà Hoàng Kiệm

 

 


CHIA SẺ BÀI VIẾT

Bài cùng chủ đề
Loading

SÁCH CỦA TÔI